This is my blog: vuvanson.tk

Go to Blogger Vi-et Spaces.

This is my blog: sonblog.tk

Go to Blogger Vi-et Spaces.

This is my blog: vi-et.tk

Go to Blogger Vi-et Spaces.

This is my facebook: https://www.facebook.com/vusonbk

Go to Facebook Blogger Vi-et Spaces.

This is my facebook page: https://www.facebook.com/ViEtSpaces

Go to Facebook Page Blogger Vi-et Spaces.

Thứ Tư, 30 tháng 8, 2017

How do prefix-lists work?

Prefix-lists are used to match on prefix and prefix-length pairs. Normal prefix-list syntax is as follows:
ip prefix-list LIST permit w.x.y.z/len
Where w.x.y.z is your exact prefix
And where len is your exact prefix-length
“ip prefix-list LIST permit 1.2.3.0/24″ would be an exact match for the prefix 1.2.3.0 with a subnet mask of 255.255.255.0. This does not match 1.2.0.0/24, nor does it match 1.2.3.4/32, nor anything in between.

Thứ Hai, 28 tháng 8, 2017

BGP - Thuộc tính Community

Thuộc tính community là một thuộc tính bắc cầu (transitive), được chọn trong khoảng từ 0 đến 4294967200. Nó là một cách để nhóm những đích đến trong một cộng đồng nhất định và áp dụng các quyết định định tuyến (accept, prefer, redistribute, vv..) theo những community.

Ta có thể sử dụng route map để thiết lập các thuộc tính community. Lệnh route-map có cú pháp như sau:

set community communitynumber [additive]

Một số thiết lập thêm vào (communitynumber) là :

  • noexport ( Không quảng bá tới EBGP peers)
  • noadvertise (Không quảng bá route này tới bất kì peer nào)
  • internet (Quảng bá route này tới cộng đồng internet, bất kì router nào chứa nó)

Chủ Nhật, 27 tháng 8, 2017

Symbol là gì? Dịch ra thì nó nghĩa là ký hiệu...Don't understand!!!?

Symbol không nên dịch là biểu trưng. Bản thân tôi khi dịch từ symbol cũng rất băn khoăn. Về bản chất, để có thể nâng cao hiệu quả sử dụng phổ (bandwidth efficiency), chức năng đầu tiên của điều chế số là ghép k bit thành một symbol, tức là thay vì sử dụng tín hiệu số cơ bản nhị phân để truyền tin (bit), chúng ta sử dụng tín hiệu số nhiều mức (M mức). Như vậy một tổ hợp k bit tạo nên một symbol - là một tín hiệu số có thể nhận một trong M = 2^k trạng thái hay giá trị có thể có và mang một lượng tin tức là k bit. Việc dịch symbol thành biểu trưng hay ký hiệu, hay dấu đều không lột tả được bản chất của vấn đề và theo kinh nghiệm của tôi, nó không giúp ích gì cho người mới học trong việc hiểu vấn đề cả. Trong tiếng Việt chúng ta từ trước không có khái niệm này.

Tôi rất muốn khuyến nghị mọi người sử dụng trực tiếp từ symbol như một từ lai, Việt hóa từ này như chúng ta đã từng sử dụng các từ xà phòng, đường ray, nhà ga, tăng-xê (hầm trú ẩn), ghi-đông mượn từ tiếng nước ngoài. Tại sao chúng ta đã sử dụng thành công các từ như bit hay chip mà lại không sử dụng từ symbol. Trước mắt, trong các tài liệu, để thể hiện việc mượn từ nước ngoài, chúng ta chỉ cần để từ symbol in nghiêng mà thôi. Đằng nào thì cũng chỉ những người làm kỹ thuật đọc đến những tài liệu này và vì vậy để nguyên từ như thế có khi còn dễ hiểu hơn là mỗi người dùng một từ Việt khác nhau mà gọi nó.
Nguyên văn bởi Tuan Duc

Thứ Bảy, 26 tháng 8, 2017

Điều chế QAM

Tín hiệu truyền hình, sử dụng điều chế QAM truyền tải và yêu cầu đầu cuối biên độ tín hiệu phải đạt 60 dBV, MER > 32dBm… Với sự  triển của công nghệ, sử dụng máy đo kiểm với  một vài thao tác đơn giản, ta có thể thu thập thông số tín hiệu đường truyền ngày một chính xác với độ tin cậy cao. Thế nhưng QAM là gì, MER là gì, những thông số này có ý nghĩa như thế nào thì nhiều khi ta lại bỏ qua và không thật sự hiểu rõ về chúng. Bài viết này sẽ giải đáp  điều này.
QAM, thuật ngữ không xa lạ. QAM (Quadrature Amplitude Modulation –  điều chế biên độ vuông góc)  là phương pháp điều chế dựa trên việc thay đổi pha và biên độ của sóng mang. Tại thiết bị thu, quá trình giải điều chế sẽ phục hồi tín hiệu cần truyền dựa trên biên độ và pha của hai sóng sin, cos nhận được ở cùng tần số.  Các bậc biên độ thể hiện qua hai thông số I, Q  và được biểu hiện trong giản đồ hình sao.

Chủ Nhật, 20 tháng 8, 2017

Sen tàn



Hoa nào hoa chẳng tàn phai
Người ta cũng thế có ai không già
Hoa sen hương sắc đậm đà
Cánh sen đã rụng nhưng mà còn gương

Tàn phai là lẽ bình thường
Còn nhụy được giữ lấy hương ướp chè
Gương thì thuốc lấy hạt già
Sen tàn nhưng vẫn còn là cái tâm ./.

Thứ Sáu, 18 tháng 8, 2017

Giới thiệu tổng quan mô hình MPLS VPN


Hình trên cho chúng ta thấy tổng quan về một mô hình MPLS VPN với đầy đủ các thành phần cơ bản nhất. Một nhà cung cấp dịch vụ đang cung cấp các cơ sở hạ tầng chung phổ biến mà khách hàng sử dụng. Điều quan trọng là làm quen với các thuật ngữ liên quan đến MPLS VPN.
Trong mạng của nhà cung cấp dịch vụ, chúng ta có thể thấy các router P và PE. Vậy chúng là gì ? Chức năng của từng router này ra sao? Router PE (PE – Provider Edge) là router biên của mạng nhà cung cấp dịch vụ. Nó kết nối với router biên của khách hàng là router CE (CE – Customer Edge). Router P (Provider router) là router trong mạng nhà cung cấp dịch vụ, nó không có kết nối trực tiếp với các router của khách hàng.Trong việc triển khai MPLS VPN, cả router P và router PE đều chạy MPLS. Điều này có nghĩa là nó có khả năng phân phối các nhãn giữa nó và chuyển tiếp các gói tin đã gán nhãn.
Trong mạng của khách hàng, có các router C và CE. Một router CE có kết nối trực tiếp ở lớp 3 với router PE. Một router khách hàng (C – Customer router) là một router không có đường kết nối trực tiếp đến router PE. Router CE thì không cần phải chạy MPLS. Vì CE và PE giao tiếp với nhau ở lớp 3 nên nó phải chạy một giao thức định tuyến (hoặc chạy định tuyến tĩnh). Router CE có duy nhất một mạng ngang hàng bên ngoài đó là router PE. Nếu mạng khách hàng có nhiều CE thì nó có thể ngang hàng với nhiều PE. Router CE thì không có ngang hàng với bất kỳ một router CE nào đến từ các site khác qua mạng nhà cung cấp dịch vụ như với mô hình overlay. Cái tên mô hình peer-to-peer xuất phát từ thực tế là CE và PE tạo thành một mạng ngang hàng ở lớp 3.
Chữ P trong VPN là viết tắt của từ Private (Riêng tư). Như vậy khách hàng của nhà cung cấp dịch vụ được phép có sơ đồ địa chỉ IP của riêng họ. Điều này có nghĩa là họ có thể sử dụng các địa chỉ IP đăng ký mà còn có thể sử dụng các địa chỉ IP private hoặc thậm chí là sử dụng các địa chỉ IP đã được khách hàng khác sử dụng để kết nối đến cùng nhà cung cấp dịch vụ – cho phép sử dụng địa chỉ IP trùng lắp. Nếu các gói tin đã được chuyển tiếp như các gói tin IP trong mạng nhà cung cấp dịch vụ, điều này sẽ gây ra vấn đề, vì các router P sẽ bị nhầm lẫn. Nếu như các địa chỉ IP private và trùng lắp không được cho phép, khi đó mỗi khách hàng sẽ phải sử một phạm vi địa chỉ duy nhất. Trong trường hợp này, các gói tin có thể được chuyển tiếp bằng cách nhìn vào các địa chỉ IP đích trên mỗi router trong mạng nhà cung cấp dịch vụ. Điều này có nghĩa là tất cả router P và PE phải có một bảng định tuyến hoàn chỉnh cho mỗi khách hàng. Đây sẽ là một bảng định tuyến lớn. Chỉ duy nhất giao thức định tuyến có khả năng mang một số lượng lớn các route đó là Border Gateway Protocol (BGP). Điều này có nghĩa rằng tất cả các router P và PE sẽ phải chạy internal BGP giữa chúng. Tuy nhiên, đó không phải là một sơ đồ VPN, bởi vì nó không có tính riêng tư cho khách hàng.
Một giải pháp khác là mỗi router P và PE có một bảng định tuyến riêng cho mỗi khách hàng. Nhiều quy trình của một giao thức định tuyến (một quá trình trên mỗi VPN) có thể được chạy trên tất cả các router để phân phối các route VPN. Chạy một quy trình định tuyến trên mỗi VPN trên mọi router P thì không có khả năng mở rộng. Mỗi lần một VPN được thêm vào mạng, một quy trình định tuyến mới phải được thêm vào tất cả router P. Hơn nữa, nếu một gói tin IP đi vào một router P, làm thế nào để router P xác định được gói tin đó thuộc về VPN nào để tìm ra bảng định tuyến riêng cho nó để chuyển tiếp gói tin ? Nếu một gói tin là gói tin IP, điều đó là không thể. Bạn có thể thêm một trường mở rộng để gói tin IP chỉ ra VNP nó thuộc về. Các router P sau đó có thể chuyển tiếp các gói tin IP bằng cách nhìn vào trường thêm này và địa chỉ IP đích. Một lần nữa, tất cả các router P sẽ phải biết về trường mở rộng này.
Một giải pháp mở rộng sẽ có các router P hoàn toàn không biết gì về các VPN. Khi đó các router P sẽ không phải chịu gánh nặng với việc chứa các thông tin định tuyến của VPN. Chúng ta có thể đạt được điều đó bằng cách sử dụng MPLS. Các gói tin IP khách hàng sẽ được dán nhãn ở trong mạng nhà cung cấp dịch vụ để đạt được sự riêng tư cho VPN mỗi khách hàng. Hơn nữa, những con router P sẽ không còn cân phải có bảng định tuyến của các khách hàng bằng cách sử dụng hai nhãn MPLS. Do đó, BGP thì không còn cần trên các router P. Các định tuyến VPN chỉ được biết trên các router PE. Như vậy, các kiến thức VPN chỉ xuất hiện trên các router biên của mạng MPLS VPN.

Thứ Ba, 15 tháng 8, 2017

Phân tích xu hướng phát triển của Công Nghệ Truyền Hình (DVB-S3, DVB-T3)

I. PHÁT SÓNG QUẢNG BÁ.

I.1. Sơ lược về quảng bá số.

Việc truyền dữ liệu số trực tiếp đến thuê bao đã phát triển trên 15 năm, với ban đầu từ vệ tinh và sau đó vào năm 1990 là từ các máy phát mặt đất.

Các hệ thống này có cách cung cấp dịch vụ như các hệ thống truyền dẫn tương tự trước đó nhưng chúng có thể cho phép truyền nhiều kênh chương trình hơn trên cùng một băng thông, và cường độ tín hiệu yêu cầu cho máy thu cũng thấp hơn. Tuy nhiên, hiệu quả của các hệ thống này cũng không hoàn toàn tối ưu do ràng buộc về năng lực xử lý tín hiệu và chi phí cho thiết bị thu dân dụng.


Gần đây, thế hệ thứ hai của những hệ thống này cũng đã được phát triển nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng cho các hệ thống. Vẫn còn là câu hỏi để ngõ sau khi cải tiến về khả năng của hệ thống đã đạt đến giới hạn (về lý thuyết) hoặc có khả năng cải tiến tiếp tục cho thế hệ thứ ba.

Các giới hạn về mặt lý thuyết

Trong một kênh với một băng thông xác định, có một giới hạn biên trên về tốc độ dữ liệu không lỗi tối đa có thể được truyền trong kênh. Đây là một đặc tính phụ thuộc vào băng thông kênh và tỉ số tín hiệu/nhiễu (signal-to-noise ratio) ở phía thu và được gọi là giới hạn Shannon (được khám phá bởi Claude Shannon). Ví dụ, với tỉ số tín hiệu/nhiễu là 0dB (công suất tính hiệu và nhiễu bằng nhau) thì tốc độ dữ liệu tối đa có thể truyền được không xảy ra lỗi là 1bit/s trong mỗi Hertz của băng thông. Giới hạn này chỉ đúng với một kênh lý tưởng với định nghĩa chặt chẽ về băng thông, và ảnh hưởng chỉ bởi nhiễu trắng AWGN (Additive White Gaussian Noise). Các kênh vệ tinh được xấp xỉ tương ứng với một kênh AWGN, nhưng kênh mặt đất thì không xấp xỉ như thế được (nhiễu ảnh hưởng từ kênh mặt đất phức tạp hơn).

Các hệ thống vệ tinh phân phối tốc độ dữ liệu kém hơn tốc độ tối đa về mặt lý thuyết cho phép trong một băng thông do hai lý do chính. Thứ nhất, các hệ thống mã hóa và điều chế đạt một hiệu suất nhất định (theo khoảng cách) từ giới hạn Shannon. Thứ hai, tốc độ symbol của dữ liệu truyền sẽ thấp hơn băng thông lý tưởng cho phép.

Thứ Hai, 7 tháng 8, 2017

Viết Cho Mùa Thu Đang Đến



Tháng Tám về rồi em có hay
Vườn hoang trút lá khoảng sân đầy
Bước chân ai vội con đường vắng
Bỏ lại khung trời thưa bóng mây

Tháng Tám về rồi trong tiếng mưa
Nghe hồn ngơ ngác buổi chiều xưa
Dòng sông ai thả con thuyền giấy 
Trôi mãi về đâu trong giấc mơ

Tháng Tám về rồi em có nghe
Chim chuyền ríu rít giữa hàng me
Mảnh trăng đầu tháng treo lơ lửng
Nhuộm khoảng sân vàng, soi bóng tre.

Tháng Tám về rồi trên nhánh cây
Là mùi hoa sữa thoảng đâu đây
Cánh hoa e ấp vương tà áo
Ta đứng nhìn em một thoáng này....

Thứ Năm, 3 tháng 8, 2017

Đánh giá Công Cụ SSH XShell Cho Linux

Trong bài viết trước mình đã hướng dẫn các bạn upload và download file trực tiếp trên ssh dựa vào ZMODEM trên tool Xshell, nên bài viết này mình sẽ giới thiệu về công cụ này cho các bạn nào chưa biết có thể trải nghiệm thử.
XShell cũng là một công cụ ssh tới hệ điều hành linux nhưng có nhiều chức năng rất hay, thường thì các bạn hay sử dụng Putty nhưng mình thích dùng công cụ ssh Xshell hơn, sau đây là các ưu điểm mà sau một thời gian mình sử dụng.
  1. Hỗ trợ tính năng upload download file trực tiếp ngay trên giao diện ssh mà không cần dùng tới Win SCP
  2. Có tính năng tô màu cho lệnh, màu cho các loại tập tin khác nhau giúp bạn thao tác lệnh dễ hơn
  3. Trình quản lý các VPS phân theo thư mục, nhóm… dễ dàng quản lý nếu như bạn có quá nhiều VPS
  4. Bạn có thể sắp xếp các ô SSH trực quan, bạn có thể ssh tới nhiều con VPS khác nhau và sắp xếp chúng trực quan trên màn hình, giúp bạn thao tác cùng lúc nhiều ssh khác nhau
  5. Chức năng hỗ trợ tìm kiếm nội dung trong ssh giống như tìm kiếm chữ trong word, notepad mà ta thường dùng phím tắt là Ctrl  + F
  6. Những tính năng linh tinh khác như: lưu lại log trong quá trình làm việc, tự động chuyển nội dung ssh qua notepad cho chúng ta xem…
Trên là các tính năng mình cảm thấy hay nêu ra cho các bạn, bạn hãy thử xem, nó sẽ giúp bạn thao tác nhanh gọn và dễ dàng hơn so với Putty nhiều đấy.
Các bạn có thể download phần mềm XShell tại https://www.netsarang.com/download/software.html
Đây là giao diện của Xshell sau khi bạn cài đặt xong
giao-dien-ssh-xshell