Thứ Bảy, 29 tháng 11, 2014

Tìm hiểu về MAM (Media Asset Management)

Hệ thống MAM (tạm dịch là hệ thống quản lý tài nguyên truyền thông), nó giúp người sử dụng có thể xác định đúng vị trí nội dung cần phát sóng.MAM là một phần quan trọng của hệ thống truyền hình. Hệ thống MAM đầu điên là các thẻ file file cards và sheets of paper. Nhiều nhà truyền hình cùng các phương tiện sản xuất hậu kỳ đã bắt đầu sử dụng các máy tính để tìm kiếm tài liệu trong bộ phận lưu trữ của họ. Lưu trữ được xem như là một khâu xử lý cuối cùng và hệ thống MAM gặp nhiều hạn chế để truy cập tới những danh mục hệ thống đơn giản
Hệ thống Media Asset Management (MAM) liên kết mọi người sử dụng với tư liệu Media bằng việc quản lý tất cả các dạng tư liệu trên thời gian, chu kỳ sử dụng tư liệu từ lúc thu ghi tín hiệu đến lưu trữ. Sự thành công của các doanh nghiệp truyền thông ngày càng phụ thuộc vào việc sử dụng tối ưu và tái sử dụng nội dung, hệ thống quản lý tư liệu MAM được thiết kế tốt sẽ trở thành một công cụ làm việc không thể thiếu. Một hệ thống MAM có thể xử lý bất kỳ tư liệu số nào - cho dù là video, audio, hoặc các media assets
Ngày nay, MAM có những bước phát triển quan trọng cùng với đó là vai trò của lưu trữ đã thay đổi mạnh mẽ. Hệ thống MAM có thể xác định đúng vị trí và theo dõi nội dung từ đầu đến cuối một cách dễ dàng. Các broadcaster tạo một category mới cho tập tin lưu trữ, kho lưu trữ nội dung chia sẻ thường hoạt động tại trung tâm sản xuất truyền hình
MAM gồm những gì?
Hệ thống MAM có một số vùng chức năng bao gồm: ingest, annotation, cataloging, storage, retrieval  và delivery. Mặc dù vậy các chức năng này có thể hoạt động đồng thời.
Ingest (nhập)
Trong suốt quá trình xử lý ingest, hệ thống lưu trữ sẽ capture vật liệu (gồm video và audio) dưới dạng số. Thông thường, chúng sẽ capture đồng thời cả nội dung có độ phân giải thấp và nội dung có độ phân giải tối đa. Các vận hành viên ingest hoặc các hệ thống tự động sẽ liên kết các vật liệu đã được capture tới một máy ghi metadata record (máy ghi siêu dữ liệu) trong hệ thống MAM và nhập vào một số thông tin sơ bộ ban đầu. Khi quá trình ingest bắt đầu, vật liệu (audio+video) có thể có sẵn cho quá trình xử lý sau (Có một vài hệ thống MAM đòi hỏi quá trình ingest phải được hoàn thành trước khi người sử dụng có thể bắt đầu làm việc với hệ thống). Phần lớn các hệ thống MAM đều có thể xác định được vật liệu không được ingest như các tập băng trên kệ
Annotation (chú thích)
Trong suốt quá trình annotation, user ghi lại chú thích trong khi đang xem nội dung. Loại annotaion clients đặc trưng gồm có các chứng năng giống VTR-like, cho phép các annotator tạm dừng nội dung trong khi nhập các chú thích note. Điều đó cực kỳ quan trọng để chú thích và các lệnh VTR có thể được truy cập nhanh chóng và trực quan từ bàn phím. Phần lớn các user thực hiện một annotation nhanh giống như hệ thống ingest vật liệu. Đối với nội dung quan trọng, chúng có thể quay lại và thực hiện một phân tích sâu hơn.
Cataloging
Trong giai đoạn cực kỳ quan trọng này, các user nhập thông tin  cho những user khác sử dụng sau để khôi phục lại nội dung. Họ nhập tiêu đề (title), ngày (date), vị trí (location) và các keyword, kèm theo thông tin khác như độ dài segment, tổng độ dài và talent. Vì các thông tin này cần thiết để phục hồi nên người sử dụng có thể dùng một bộ từ điển giới hạn để khôi phục các danh mục cho phép. Hệ thống MAM cũng có thể sử dụng công nghệ cataloging tự động để capture keyframes, closed-caption text và các thông tin khác. Các hệ thống MAM có thể đưa thông tin vào các catalog của chúng từ hệ thống biên tập và automation.
Storage (lưu trữ)
Những hệ thống MAM tiếp tục lưu trữ vật liệu. Trong suốt quá trình ingest ban đầu, MAM lưu trữ vật liệu (video+audio) và metadata. Ngoài ra, metadata còn được lưu trữ trong suốt quá trình annotation, cataloging và phân tích tự động.
Retrieval (phục hồi)
Các user thực hiện quá trình retrieval để xác định vị trí, nhận dạng và xem trước danh mục và chú thích nội dung. Cách đầu tiên và phổ biến để phục hồi vật liệu là tìm kiếm văn bản ( text search). Retrieval client có thể sử dụng kỹ thuật tìm kiếm đơn giản hoặc phức tạp để thấy catalog và annotation, quay trở lại danh sách nội dung phù hợp với tiêu chuẩn tìm kiếm. Nhưng phổ biến hơn, hệ thống hiển thị cho người dùng xem các ảnh tĩnh của kết quả tìm kiếm. Trong một vài trường hợp, Client sẽ đưa các user tới khu vực có nội dung phù hợp. Điều này có thể hữu ích trong trường hợp mà ta đang cố gắng xác định một cảnh đặc biệt trong bộ phim kéo dài 2 giờ đồng hồ.
Delivery
Trong vài tình huống, chức năng retrieval cũng là chức năng delivery. Trong những cấu hình khác, hệ thống MAM chuyển nội dung độ phân giải cao bằng file transfer. Đôi khi quá trình retrieval MAM là một phần của chức năng retrieval lớn hơn mà người sử dụng có thể xem các ảnh đại diện độ phân giải thấp để xác định nhanh chóng vật liệu trong hệ thộng hoặc trong một thư việc offline.
Workflow support
Cách đây vài năm, quy trình sản xuất dài hơn hiện nay. Một tin tức sẽ được tải dễ dàng, ai đó trong phòng băng (tape room) sẽ record cái tin (news feed) đó, một biên tập sẽ lấy tape đó và bắt đầu biên tập, cuối cùng khi câu chuyện hoàn thành sẽ được chuyển tới phòng điều khiển control để tích hợp vào bản tin buổi tối. Rồi nếu câu chuyện đặc biệt quan trọng, thì ai đó sẽ đặt nó trong thư viện và dĩ nhiên xác định vị trí của nó trong catalog để cho việc khôi phục lại lần sau.
Nhưng công nghệ đã cho phép có những thay đổi chính trong quy trình này. Trong quy trình mới, máy chủ lưu trữ tập tin giống như một kho nội dung trung tâm và hệ thống MAM cho phép mọi người xác định nhanh chóng vị trí của vật liệu mà họ cần dùng. Một vài biên tập viên có thể làm việc trên cùng một nguồn vật liệu, cùng lúc để tạo ra các sản phẩm khác nhau. Ví dụ: một nhà sản xuất có thể gửi một bản tin đặc biệt quan trọng trực tiếp tới phòng phát sóng. Tại cùng thời điểm đó, hệ thống tải (feed) vật liệu vào trong kho trung tâm. Các biên tập bắt đầu tạo các câu chuyện rough-cut từ dữ liệu đang đến gần như ngay lập tức. Các loại băng bắt đầu xuất hiện trong một vài phút. Các nhóm  biên tập viên khác có thể sẵn sàng bắt đầu làm việc trên loại băng này cho các bản tin 6h sáng và 11h tối
Vấn đề nảy sinh là có nhiều người muốn truy cập vào cùng nội dung  và tại cùng một thời điểm. Vấn đề này thực sự khó khăn để giải quyết khi hệ thống đang biên tập trên băng gốc. Nhưng việc di chuyển tới các môi trường biên tập mạng (networked editing environments) đã có thể cho phép người dùng thay đổi từ quy trình làm việc dài sang môi trường có tính cộng tác cao hơn. Khi mà vật liệu được lưu trữ trên server và các nhóm biên tập khác bắt đầu đặt nhiều loại sản phẩm hoàn thành khác trở lại server thì một vài hệ thống định vị, theo dõi nội dung (content-tracking) trở nên quan trọng. Đó là chức năng của hệ thống MAM- để theo dõi, xác định vị trí của nội dung và giúp người dùng tìm thấy nó
The MAM dilemma
MAM nghe có vẻ tuyệt vời nhưng có nhiều thách thức trong những hệ thống này. Một thách thức là việc tính toán dành bao nhiêu chi phí để trả cho MAM. Đặc trưng của các hệ thống MAM là chi phí dành cho một khu vực nhưng giá trị chuyển đổi trong khu vực đó và các khu vực khác là như nhau. Đó có thể là chi phí mua, cài đặt và đào tạo người vận hành các hệ thống. Ngoài ra một nhóm lưu trữ thêm vào có thể chịu thêm chi phí.
Lợi ích của MAM tạo ra cho người dùng hệ thống (ví dụ: researchers, bộ phận sản xuất hậu kỳ và phát sóng,…). Điều này có nghĩa là nhóm lưu trữ sẽ phải chịu tất cả chi phí còn các bộ phận khác thì thu được lợi ích từ MAM.
Where does the metadata come from?
Thử thách khác mà các ông chủ của hệ thống MAM phải đối mặt là làm cách nào để thu được metadata như thông tin cataloging và annotation. Nó là một thứ để đi tới một máy tìm kiếm trên Web, gõ một từ hoặc cụm từ và có hàng trăm kết quả giống như Web pages xuất hiện. Các máy tìm kiếm phân tích text tới cơ sở dữ liệu để cho ra kết quả nhanh chóng.
Tình trạng khó khăn đối với video thì lại đơn giản hơn để giải thích nhưng lại khó để giải quyết. Ta chỉ định ai để xem các bộ phim hoặc bản tin và gõ thông tin mà người khác sẽ sử dụng sau đó để khôi phục lại video hoặc audio?Nếu như dung lượng của vật liệu mới nhập vào kho lưu trữ là thấp thì nó có thể giúp người này nhập thông tin chi tiết trên từng scene cơ bản. Hiện nay nhiều nhà đài lớn đang phải đối mặt với một khối lượng công việc khổng lồ, bởi vì họ có khối lượng lớn vật liệu mới đang được đưa vào hệ thống hoặc họ có một lượng khổng lồ vật liệu dự trữ chưa được chế biến đang chờ để được xếp vào danh mục cataloge.
Đối mặt với vấn đề này, một cơ sở đã thuê những sinh viên giúp đỡ xếp mục lục catalog . Trong khi các sinh viên đã sắp xếp vào mục lục rất nhiều tài liệu trong một khoảng thời gian tương đối ngắn không lâu trước khi người sử dụng phát hiện ra rằng một số thông tin đã mất tích, một số là do lỗi và nhiều hơn cả hoặc là không phù hợp hoặc không bao gồm các thuật ngữ (term) mà ai đó có lẽ đang tìm kiếm. 

0 nhận xét:

Đăng nhận xét