Thứ Năm, 8 tháng 8, 2013

Tìm hiểu về máy ảnh,Cách chụp ảnh đẹp và ý nghĩa các thông số cơ bản của máy ảnh

Phần 1: Máy ảnh số: Những điều cần biết và cách phân loại


Ngày nay, việc sở hữu một chiếc máy ảnh số đã không còn là điều quá xa vời đối với nhiều người. Máy ảnh số có nhiều ưu điểm hơn máy ảnh phim ở tính tiện lợi (chụp và chia sẻ), tiết kiệm (tính trên khoảng chi phí lâu dài) và gọn nhẹ (trọng lượng, lưu trữ). Tuy nhiên, chọn được một chiếc máy ảnh số sao cho phù hợp với nhu cầu sử dụng và túi tiền của mỗi người là điều không hề dễ.
 
Kính thưa độc giả, từ bây giờ GenK sẽ bắt đầu một tuyến bài chuyên sâu về máy ảnh số. Một cách chung nhất, chuyên đề này sẽ trang bị cho độc giả những kiến thức từ cơ bản tới nâng cao về những chiếc máy ảnh và các kiến thức, kinh nghiệm chụp ảnh, để bạn có thể tự tin chọn mua và tận dụng được hết tính năng của chúng.
 
Trước hết, chúng ta hãy bắt đầu với việc phân loại máy ảnh. Máy ảnh số ngày nay có thể tạm chia thành hai loại phổ biến: loại có thể tháo rời (và chuyển đổi qua lại) ống kính và loại ống kính liền hay còn gọi là máy ảnh du lịch.
 
Máy ảnh ống kính rời
 
Gồm có 2 phần chính: thân máy (body) và ống kính (lens) có thể tháo rời, cũng là đặc điểm dễ nhận dạng nhất của loại máy ảnh này. Máy ảnh ống kính rời thông dụng gồm có:

 
- DSLR: (Nikon D90, D7000, Canon 60D, 600D, Pentax K-r, K7,…) là loại máy ảnh ống kính rời có gương lật, có kính ngắm quang.
 
- Mirrorless: (Nikon V1, J1, Olympus E-PL3, Sony NEX-5N, NEX-7,…) là loại máy ảnh không gương lật nên đa số ngắm chụp bằng màn hình LCD. Một số mẫu máy có thêm kính ngắm điện tử (electric viewfinder).
 
Máy ảnh ống kính rời thường sử dụng cảm biến lớn, có hệ thống ống kính rời đa dạng, đáp ứng mọi mục đích chụp nên cho chất lượng ảnh vượt trội. Tuy vậy, sử dụng máy ảnh ống kính rời phức tạp hơn nhiều so với máy ảnh du lịch, bởi có nhiều thiết lập yêu cầu người cầm máy phải có các kiến thức cơ bản về nhiếp ảnh.
 
[IMG]
Máy ảnh ống kính rời đơn phản xạ (Digital – Single Lens Reflex) có cấu tạo cực kỳ phức tạp.
 
[IMG]
 
 
Chú thích:
1 - Hệ thấu kính (ống kính máy ảnh)
2 - Gương phản xạ
3 - Cửa sập mặt phẳng lấy nét, hay còn gọi là màn sập/màn chập (trập)
4 - Sensor (cảm biến)
5 - Màng mờ
6 - Lăng kính condenser
7 - Lăng kính 5 cạnh
8 - Lỗ ngắm
 
Nguyên tắc hoạt động:
 
Với mục đích căn hình, gương sẽ phản xạ ánh sáng đến từ ống kính một góc 90 độ. Sau đó ánh sáng được phản xạ 2 lần bởi hệ thống phản xạ điều chỉnh sao cho mắt của người chụp ảnh có thể thấy được. Trong quá trình phơi sáng, gương sẽ được nâng lên và khẩu độ đóng lại (khi khẩu được thiết lập nhỏ hơn khẩu độ tối đa của ống kính), và cửa sập mở, cho phép ánh sáng đi qua ống kính vào cảm biến ảnh. Tiếp theo cửa sập sẽ đóng lại, che cảm biến, kết thúc quá trình phơi sáng, và gương hạ xuống. Thời gian gương nâng lên được gọi là khoảng thời gian tối ở ống ngắm hay còn gọi là thời gian chụp (tốc độ chụp). Hệ thống gương và cửa sập hoạt động nhanh được sử dụng cho việc chụp ảnh với tốc độ cao.
 
Máy ảnh du lịch (Point and shot)
 
Là loại máy ảnh gọn nhẹ, dễ sử dụng đúng như tên gọi: “bấm và chụp”, ống kính gắn liền không thể tháo rời hay thay đổi, không có gương lật và do đó không có kính ngắm quang (optical viewfinder) mà thường chỉ có màn hình LCD. Máy sử dụng cảm biến nhỏ, vì thế chất lượng ảnh kém hơn nhiều máy ảnh ống kính rời.
 
[IMG]
Máy ảnh du lịch có cấu tạo đơn giản hơn DSLR rất nhiều.
 
Cảm biến máy ảnh số
 
Cảm biến là bản mạch bán dẫn có khả năng cảm nhận ánh sáng chiếu lên trên nó, nhờ đó mà hình ảnh được ghi nhận dưới dạng mã hóa điện tử (kỹ thuật số). Như vậy về bản chất, cảm biến máy ảnh số đã làm nhiệm vụ của phim nhựa và màn trập trên máy ảnh cơ.
 
Cảm biến của máy ảnh ống kính rời thông thường gồm ba loại, có kích thước giảm dần: Full Frame, APS-C và Four-Thirds. Cảm biến Full Frame là loại cảm biến được gắn trên những thân máy ảnh cao cấp nhất, kích thước của chúng bằng với kích thước của 1 khung phim trong cuộn phim 35mm thường dùng. Cảm biến APS-C nhỏ hơn 1.5 lần, trong khi đó cảm biến Four-Thirds hay micro Four-Thirds nhỏ hơn 2 lần. Mới đây nhất, Nikon cho ra đời dòng máy ảnh không gương lật V1, J1 với cảm biến nhỏ hơn 2.7 lần cảm biến Full Frame.
 
[IMG]
 
[IMG]
Tương quan kích thước các loại cảm biến máy ảnh.
 
Sự khác biệt về kích thước này dẫn đến một khái niệm gọi là “Crop Factor” (Hệ số cắt / Hệ số cúp). Hiểu đơn giản là khi chụp ở cùng 1 điều kiện y hệt nhau (tiêu cự ống kính, khoảng cách, góc chụp, v..v..) thì diện tích khung hình mà cảm biến APS-C và Four-Thirds thu được sẽ tương ứng nhỏ hơn 1.5 lần và 2 lần so với cảm biến Full Frame. Do đó, nếu muốn thu được hình ảnh y hệt nhau thì người dùng cảm biến APS-C (hay Four-Thirds) sẽ phải đứng xa hơn người dùng cảm biến Full Frame 1.5 (hay 2) lần khoảng cách đến chủ thể, hoặc sử dụng ống kính có tiêu cự ngắn hơn 1.5 (hay 2) lần tiêu cự ống kính gắn trên Full Frame.
 
Tất cả các ống kính máy ảnh hiện nay đều ghi tiêu cự theo tiêu cự tiêu chuẩn của máy phim, tương đương với kích thước cảm biến Full Frame.
 
Thông số về tiêu cự ghi trên ống kính máy ảnh đều theo “chuẩn 35mm” – nghĩa là chuẩn trên cảm biến Full Frame. Bởi vậy, khi sử dụng trên các máy có cảm biến nhỏ hơn, bạn phải nhân chúng với hệ số cắt tương ứng để được tiêu cự thực tế.
 
Ví dụ: ống kính có tiêu cự 24mm khi gắn trên máy APS-C sẽ tương đương với tiêu cự 24mm X 1.5 = 36mm trên máy Full Frame.
 
Các máy ảnh ống kính rời có cảm biến Full Frame là loại máy ảnh cho chất lượng ảnh chụp cao nhất, và giá thành cũng thường đắt nhất, lên đến hàng nghìn USD. Đây thường là lựa chọn của những người theo đuổi nhiếp ảnh nghiêm túc, hoặc làm nghề liên quan tới nhiếp ảnh. Trong khi đó máy ảnh du lịch có giá thành trải dài từ khoảng 1000 USD cho đến 100-200 USD. Máy ảnh du lịch sử dụng cảm biến loại rất nhỏ, thường chỉ thích hợp với mục đích lưu giữ lại những khoảnh khắc kỷ niệm hay chia sẻ cùng bạn bè, gia đình mà thôi.
 
Trên đây là những khái niệm đầu tiên khi bạn muốn tìm hiểu về thế giới máy ảnh số. Người đọc có thể theo dõi những bài viết trong chủ đề bằng cách search tag “Chuyên đề máy ảnh số” tại khung tìm kiếm của GenK. Trong loạt bài viết tiếp theo, chúng tôi sẽ gửi tới độc giả kiến thức cơ bản về vô vàn những vấn đề khác. Chúc các bạn có những hiểu biết vững vàng để chụp được những tấm hình tuyệt đẹp.

Phần 2: Ống kính máy ảnh: Những điều cần biết và cách phân loại


Có nhiều cách phân loại ống kính, tuy nhiên 2 cách thông dụng nhất là phân loại theo tiêu cự (hay góc nhìn) và phân loại theo các thông số về độ mở kết hợp với tiêu cự được ghi trên ống kính.

Phân loại theo tiêu cự ống kính
 
Tiêu cự của ống kính được định nghĩa là khoảng cách tính từ tâm ống kính (trung điểm đoạn thẳng nối hai tâm đường tròn thấu kính trước và sau) tới cảm biến của máy.
 
Tuy nhiên định nghĩa này không mang giá trị gì mấy đối với người sử dụng, nên có thể hiểu một cách đơn giản là tiêu cự thể hiện góc nhìn và độ bao phủ diện tích khung hình chụp. Cụ thể: tiêu cự càng ngắn thì góc nhìn càng rộng, càng thu được nhiều chi tiết cảnh vật vào trong khung hình và ngược lại, tiêu cự càng dài góc nhìn sẽ càng hẹp.
 
Phân loại ống kính theo tiêu cự bao gồm 3 loại ống kính:
 
- Ống kính góc rộng (wide lens): ống kính có tiêu cự ngắn (nhỏ hơn 35mm), cho góc nhìn rộng, thường sử dụng để chụp phong cảnh.
 
- Ống kính tầm trung (normal lens): ống kính cho góc nhìn trung bình (từ 35 – 70mm).
 
- Ống kính tầm xa (tele lens): ống kính tiêu cự dài (hơn 70mm), cho góc nhìn hẹp nhưng có khả năng “kéo vật lại gần” hơn so với khoảng cách thực (tương tự ống nhòm).
 
[IMG]
Ống kính tele 70-200mm của các hãng Canon, Nikon, Sigma.
 
[IMG]
Ảnh chụp ở tiêu cự 18mm.
 
[IMG]
Ảnh chụp ở tiêu cự 24mm.
 
[IMG]
Ảnh chụp ở tiêu cự 35mm.
 
[IMG]
Ảnh chụp ở tiêu cự 55mm.
 
Trong cùng một khung hình, tiêu cự khác nhau dẫn đến sự thay đổi về tỉ lệ giữa các vật thể cũng như phối cảnh phía sau chủ thể.
 
Phân loại theo thông số ghi trên ống kính
 
Trên thân ống kính bao giờ cũng có các thông số liên quan tới độ mở và tiêu cự của ống kính (độ mở là gì, tác dụng của chúng ra sao sẽ được nói tới trong các phần tiếp theo sau). Theo đó, có thể phân chia ống kính ra làm 3 loại khác nhau:
 
- Ống kính một tiêu cự (prime lens/ fixed lens): thường gọi là “ống kính zoom chân” do tiêu cự không thay đổi được, và vì thế khi muốn thay đổi góc nhìn hoặc tỉ lệ chủ thể trong ảnh, người chụp buộc phải di chuyển cùng với máy. Do tiêu cự không thay đổi được, nghĩa là khoảng cách giữa hai thấu kính trước – sau được giữ cố định nên prime lens cho chất lượng hình ảnh rất sắc nét, đặc biệt thường có độ mở lớn.
 
- Ống kính dải tiêu cự đa khẩu độ: là ống kính dạng “zoom”, có khả năng thay đổi tiêu cự trong một dải cố định hai đầu bằng cách xoay hoặc đẩy lens. Khi thay đổi tiêu cự trong dải này, độ mở ống kính cũng tự động thay đổi theo.
 
[IMG]
Ống kính dải tiêu cự đa khẩu độ 18-105mm 1:3.5-5.6 của Nikon.
 
- Ống kính dải tiêu cự khẩu độ cố định: tương tự ống kính dải tiêu cự đa khẩu độ, nhưng khẩu độ không bị thay đổi tự động theo tiêu cự ống kính.
 
[IMG]
Ống kính dải tiêu cự khẩu độ cố định 24-70mm f1:2.8 L nổi tiếng của Canon.
 
Ống kính trên máy ảnh du lịch
 
Tuy không thể tháo rời và thay thế, nhưng ống kính trên máy ảnh du lịch cũng có thể phân chia theo các cách trên. Thông thường, chúng là ống kính dải tiêu cự đa khẩu độ. Một số máy du lịch có khả năng “zoom” rất xa (10x, 15x, 24x, 36x). Trong khi một số khác lại có khả năng chụp góc cực rộng (24mm), tương đương ống kính góc rộng. Tuy nhiên, đường kính ống kính nhỏ, cấu tạo ống kính đơn giản và giá trị độ mở nhỏ là những điểm yếu khiến chất lượng hình ảnh trên máy du lịch khó có thể đẹp được.
 
[IMG]
Máy ảnh du lịch P300 có góc chụp rộng 24mm của Nikon.
 
[IMG]
Máy ảnh siêu zoom 30X Finepix HS20 của Fujifilm.
 
Cách đọc thông số ghi trên ống kính
 
Lấy ví dụ với ống kính kit phổ biến của máy ảnh ống kính rời Nikon là (VR) AF-S Nikkor 18-55mm 1:3.5-5.6 G:
 
[IMG]
 
AF-S: hệ ống kính có motor lấy nét tự động (Auto Focus – AF) tiên tiến nhất của Nikon, cho tốc độ lấy nét nhanh và êm ái (Silent – S).
 
Nikkor: ống kính dành cho thân máy Nikon.
 
18-55mm: dải tiêu cự thay đổi được của ống kính, từ góc nhìn rộng nhất (18mm) cho tới hẹp nhất (55mm) khi zoom. Có thể thấy ống kính này được xếp vào loại tiêu cự “bắc cầu” từ góc rộng tới tầm trung theo cách phân loại ở trên.
 
1:3.5-5.6: giá trị độ mở của ống kính. Ở tiêu cự ngắn nhất (18mm) ống kính có thể đạt được tới độ mở tối đa là f/3.5, và ở tiêu cự dài nhất (55mm) độ mở tối đa mà ống kính có thể đạt được chỉ là f/5.6.
 
G: công nghệ thấu kính tiên tiến của Nikon.
 
Một điểm cần lưu ý ở đây rằng, vì các con số 3.5 hay 5.6 này thực chất đều là mẫu số trong phân số có tử số cố định bằng 1, nên con số này càng cao thì giá trị độ mở lại càng nhỏ (tỉ lệ nghịch). Ví dụ 1:2.8 (hay f/2.8) sẽ thể hiện độ mở lớn hơn 1:8 (hay f/8).
 
VR: cho biết ống kính này được tích hợp tính năng chống rung (Vibration Reduction).
 
Một ví dụ nữa với ống kính “ngon - bổ - rẻ” của Canon: EF 50mm 1:1.8 II.
 
[IMG]
 
EF: hệ ống kính có thể lấy nét tự động hoặc lấy nét bằng tay (Manual Focus) tùy ý muốn người sử dụng.
 
50mm: tiêu cự của ống kính. Do chỉ có 1 giá trị (khác với ống kính 18-55mm ở trên) nên đây là dạng ống kính một tiêu cự (prime lens) như cách chia ở trên. Đây cũng là ống kính có tiêu cự nằm trong khoảng tầm trung (normal lens).
 
1:1.8: giá trị độ mở tối đa của ống kính. Do tiêu cự không thay đổi được nên độ mở ống kính cũng có thể giữ cố định, tùy thuộc vào ý muốn người sử dụng.
 
II: thế hệ thứ 2 của loại ống kính này.
 
Một số ký hiệu thường gặp trên ống kính máy ảnh và ý nghĩa của chúng
 
- VR (ống kính Nikon), IS (ống kính Canon), OSS (ống kính Sony), OS (ống kính Sigma): đều mang ý nghĩa rằng ống kính này được tích hợp tính năng chống rung quang. Bằng cách xê dịch các thấu kính bên trong ống kính, tính năng này sẽ triệt tiêu hiện tượng rung/nhòe hình trong quá trình chụp.
 
- Mark I, II, III,…: thế hệ thứ 1, 2, 3,… của loại ống kính này.
 
- USM (ống kính Canon), SWM (ống kính Nikon): ống kính lấy nét tự động tốc độ cao và không gây tiếng ồn. USM là viết tắt của Ultrasonic Motor, SWM là viết tắt của Silent Wave Motor.
 
- Macro: ký hiệu bằng hình một bông hoa (xem ống kính Canon EF 50mm 1:1.8 II ở trên), cho biết ống kính có khả năng chụp Macro (siêu cận cảnh), lấy nét ở khoảng cách rất gần so với thông thường.
 
- G, D, N, L: thể hiện mức độ hiện đại của kỹ thuật chế tạo ống kính. Trong đó N (Nano) và L (Luxury) là hai dòng ống kính đẳng cấp cao nhất của Nikon và Canon.

Phần 3: Sự phơi sáng


- Bản chất của chụp ảnh cũng giống như cách con mắt chúng ta nhìn mọi vật. Đó là thu nhận các luồng ánh sáng phản chiếu từ vật thể. 
- Độ phơi sáng của tấm hình chịu ảnh hưởng của 3 yếu tố: Độ mở ống kính, Tốc độ chụp hay tốc độ màn trập, và độ nhạy sáng.

Nếu tranh vẽ là nghệ thuật của sự trừu tượng, hiphop là nghệ thuật đường phố thì nhiếp ảnh - là nghệ thuật của ánh sáng. Một bức ảnh đẹp hay không, không chỉ thể hiện ở những chi tiết hay cảnh vật trong hình, mà một yếu tố quan trọng để tạo nên một tác phẩm "để đời" chính là độ sáng.
 
Bản chất của chụp ảnh cũng giống như cách con mắt chúng ta nhìn mọi vật. Đó là thu nhận các luồng ánh sáng phản chiếu từ vật thể.
 
Máy ảnh hình dung đơn giản là một chiếc hộp tối. Khi ta bấm nút chụp ảnh, màn trập sẽ mở ra cho ánh sáng bên ngoài xuyên qua ống kính đi vào bên trong hộp tối. Ở cuối hộp tối là nơi chứa cảm biến máy ảnh. Trên bề mặt cảm biến máy ảnh có vô số các điểm ảnh (chúng ta thường nghe nói “chiếc máy này độ phân giải 16 chấm”, thực chất chính là 16 triệu điểm ảnh – 16 Megapixel – trên bề mặt cảm biến). Các tia sáng đi vào bên trong hộp tối vốn phản chiếu từ vật thể phía trước ống kính, sẽ bị các điểm ảnh này thu nhận lại và sau đó chuyển về phía sau cho cảm biến mã hóa thành tín hiệu ảnh.
 
Như vậy, độ sáng của tấm ảnh sẽ được quyết định bởi lượng ánh sáng mà các điểm ảnh này thu được. Khi lượng ánh sáng vào quá nhiều thì ảnh sẽ trắng xóa, còn không đủ thì ảnh sẽ bị tối. Một bức ảnh có độ sáng đúng với đối tượng được chụp gọi là đúng sáng.
 
Vậy làm sao để biết từ trước lúc chụp rằng tấm hình sẽ đúng sáng hay không?
 
Khi nhìn vào kính ngắm của máy ảnh ống kính rời, ta sẽ thấy một thanh sáng, bao gồm các vạch chia như thước kẻ nằm ở phía dưới hoặc cạnh bên (vùng khoanh màu đỏ trong hình), gọi là thanh đo sáng hay thanh đo giá trị EV. Vạch chính giữa mặc định EV=0 là đủ sáng. Cách vạch về phía cực âm (-) là thiếu sáng, và ngược lại là thừa sáng. Khi ta thực hiện thao tác lấy nét cũng đồng thời là đo sáng cho tấm hình sắp chụp, và dựa vào vị trí của hình tam giác ngược phía trên thước đo sẽ biết được tấm hình sắp chụp là đủ sáng hay không.
 
[IMG]
Thanh đo sáng bên trong kính ngắm.
 
Độ phơi sáng của tấm hình chịu ảnh hưởng của 3 yếu tố: Độ mở ống kính, Tốc độ chụp hay tốc độ màn chập, và độ nhạy sáng.
 
Apeture (Độ mở ống kính, thường ký hiệu là A)
 
Độ mở ống kính là phần điều chỉnh lượng ánh sáng đi qua ống kính trong cùng 1 đơn vị thời gian. Cấu tạo bộ phận này bao gồm những lá mỏng ghép lại tạo ra khe hở dạng hình tròn có thể điều chỉnh được. Tương ứng với các độ mở ống kính ta có dãy trị số tiêu chuẩn 1, 1.4, 2, 2.8, 4, 5.6, 8, 11, 16, 32… các trị số này gọi là F-stop hay Khẩu độ. Tại mỗi F-stop ta có đường kính lỗ mở d tương đương f/1, f/1.4 , f/2 f/2.8 … và f chính là độ dài tiêu cự ống kính. Như vậy ta có thể thấy Khẩu độ càng lớn thì đường kính d càng nhỏ và ánh sáng đi qua ống kính càng ít.
 
[IMG]
Các lá khẩu xếp liền kề nhau tạo thành lỗ mở.
 
Shutter Speed (Tốc độ chụp, thường ký hiệu là S)
 
Cấu tạo thân máy ảnh có một màn chập nằm phía sau gương lật, là nơi sẽ mở ra đón ánh sáng từ bên ngoài xuyên qua ống kính vào hộp tối khi ta nhấn nút bấm máy. Tốc độ chụp được tính là khoảng thời gian kể từ khi màn chập mở ra cho tới khi đóng lại. Bởi vậy nó còn được gọi là tốc độ màn chập.
 
[IMG]
Màn chập máy ảnh.
 
Thay đổi tốc độ chụp chính là việc điều chỉnh khoảng thời gian màn chập mở ra, qua đó kiểm soát thời gian ánh sáng đi vào để thay đổi độ sáng của ảnh chụp. Thời gian này càng lâu (tốc độ chậm) thì lượng ánh sáng đi vào càng nhiều và ngược lại, thời gian này càng ngắn (tốc độ nhanh) thì lượng sáng đi vào sẽ ít đi.
Tốc độ chụp nhanh hơn 1 giây có 1/2, 1/4, ….1/125, 1/250…
 
Còn lâu hơn 1 giây là 2, 4, 8, 16s…
 
Ngoài ra còn có tốc độ chụp Bulb (ký hiệu chữ B): là thời gian chụp tính từ lúc màn chập mở ra (bấm chụp và giữ) cho đến khi đóng lại (nhả nút bám chụp).
 
Độ nhạy sáng (ISO): thể hiện khả năng thu nhận ánh sáng của cảm biến máy ảnh. ISO càng cao thì cảm biến máy ảnh càng nhận được nhiều ánh sáng hơn trong cùng 1 đơn vị thời gian, đổi lại hình ảnh cũng sẽ nhiều nhiễu (còn gọi là hạt / noise / hay grain) hơn và dễ mất chi tiết hơn so với khi chụp ở ISO thấp.
 
Ta cùng xem loạt hình được chụp ở cùng góc độ, thời điểm và thiết lập cân bằng trắng cũng như độ sáng giống nhau sau đây để thấy được sự thay đổi về chất lượng ảnh khi chụp ở các mức ISO khác nhau:
 
[IMG]
Ảnh chụp ở ISO 100 sạch nhiễu và tái hiện màu sắc rất chính xác (Click vào hình để xem ảnh lớn).
 
[IMG]
Ảnh chụp ở ISO 400, nhiễu bắt đầu xuất hiện (Click vào hình để xem ảnh lớn).
 
 
[IMG]
Ảnh chụp ở ISO 800, nhiễu xuất hiện ngày càng nhiều hơn (Click vào hình để xem ảnh lớn).
 
[IMG]
Ảnh chụp ở ISO 1600, nhiễu tăng lên rất nhiều (phần chậu hoa bên dưới) nhưng màu sắc và tương phản
giữa các chi tiết vẫn được tái hiện tốt (Click vào hình để xem ảnh lớn).
 
[IMG]
(Click vào hình để xem ảnh lớn).
 
[IMG]
(Click vào hình để xem ảnh lớn).
 
[IMG]
3 tấm ảnh ở phía trên: Từ mức ISO 3200 trở lên, tuy đã thiết lập các thông số chụp thủ công ngay từ đầu
để đảm bảo tính cố định nhưng màu sắc ảnh vẫn bị biến đổi, nhiễu xuất hiện cực nhiều (Click vào hình để xem ảnh lớn).
 
Mối tương quan giữa ISO, S và A:
 
[IMG]
Mối tương quan giữa ISO, S và A cũng giống như chiếc bập bênh, khi bên này (A)lên cao thì bên kia (S)
phải hạ xuống thấp và ngược lại. Trong khi đó ISO đóng vai trò như chiếc trục, trục càng lên cao, người chụp
càng được phép hạ khẩu độ nhỏ hơn và dùng tốc độ chụp nhanh hơn mà vẫn đảm bảo ảnh đúng sáng.
 
Như vậy, có thể tổng kết lại rằng để đạt được 1 tấm hình đủ sáng, phải đảm bảo kiểm soát được tốt 3 yếu tố Tốc độ chụp, Độ mở ống kính và ISO. 3 yếu tố này có mối quan hệ tương tác lên nhau. Cụ thể, khi ta tăng độ mở ống kính thì tốc độ chụp sẽ nhanh hơn, khi ta giảm độ mở ống kính thì tốc độ chụp sẽ chậm lại (cần lưu ý một điểm mà nhiều người hay nhầm, rằng giá trị sau số F càng lớn thì nghĩa là độ mở ống kính càng nhỏ và ngược lại. Ví dụ: F1.8 cho độ mở ống kính lớn hơn F8).
 
Trong khi đó, sử dụng ISO thấp sẽ giúp giảm nhiễu và tăng chất lượng ảnh, nhưng lại đòi hỏi độ mở ống kính lớn và tốc độ chụp chậm hơn so với ISO ở mức cao.
 
Việc sử dụng các yếu tố này ra sao để đạt được tấm hình như ý muốn sẽ được GenK giới thiệu với các bạn trong các phần sau của loạt bài viết này.

Phần 4: CMOS và CCD


[IMG]

Trước hết, CCD là gì và CMOS là gì?

Ngoại trừ những kỹ sư điện tử hoặc những người yêu thích kỹ thuật, CCD tồn tại trong tiềm thức của đông đảo người tiêu dùng từ lúc chúng bắt đầu xuất hiện trên các "mét" giá và các trang quảng cáo mầu mè của các siêu thị. CMOS thì rất lâu sau đó, trong vòng 5 năm trở lại đây. Không phải ai cũng biết rằng CCD được sáng chế và đưa vào sử dụng từ đầu những năm 70 của thế kỷ trước. CMOS còn sớm hơn thế nữa.

CCD (charge coupled device) và CMOS (complementary metal oxide semiconductor) là hai công nghệ khác nhau dùng trong các phần tử nhậy sáng (PTNS) được sử dụng trong các lĩnh vực xử lý hình ảnh như vô tuyến truyền hình, nhiếp ảnh số, các máy móc văn phòng (scaners, copyers), thiên văn, hàng không vũ trụ, cũng như các ngành công nghiệp khác.

Như tôi đã viết lúc trước, CMOS và CCD được sáng chế và sử dụng từ những năm 60, 70. Suốt hơn 3 thập niên CCD được sử dụng rộng rãi hơn CMOS vì lý do tỉ lệ giá thành trên chất lượng cao hơn trong phạm vi công nghệ hiện thời. Ngay cả trong thời hoàng kim của CCD, sự khẳng định rằng CCD (hoặc ngược lại, CMOS) cho ta chất lượng ảnh đẹp hơn là sai lầm. Cả hai công nghệ đều có thể đạt được những chỉ số tương tự về chất lượng. Sự khác nhau giữa chúng nằm ở giá thành phải bỏ ra để đạt được các sản phẩm có chất lượng tương đương. Trong 5 năm trở lại đây, chúng ta đã chứng kiến những bước nhẩy vọt trong công nghệ sản xuất PTNS CCD cũng như CMOS. Việc phát triển không ngừng của công nghệ sản xuất và sự sử dụng ngày một rộng rãi hơn của CCD cũng như CMOS đã phủ nhận mọi giả thiết cho rằng một trong hai công nghệ sẽ phát triển nổi trội và thay thế công nghệ thứ hai trong tương lai.

Cả CCD và CMOS đều thực hiện một nhiệm vụ giống nhau: biến các tín hiệu ánh sáng thành các tín hiệu điện tử. Sự khác nhau cơ bản của chúng (về nguyên lý hoạt động) nằm ở cách chuyển các tín hiệu điện tử đó ra khỏi PTNS nhằm mục đích xử lý tiếp và lưu trữ.

Như chúng ta biết, bề mặt của các PTNS được chia ra thành các phần tử nhỏ đứng cạnh nhau theo hàng và cột như một ma trận. Các phần tử nhó đó chính là các tế bào quang điện tí hon và được gọi là các pixel, viêt tắt của Picture Element. Các photon ánh sáng khi đập vào bề mặt của PTNS sẽ làm xuất hiện các điện tích tại các pixel mà độ lớn phụ thuộc vào cường độ sáng tại vị trí của pixel đó.

Đối với các PTNS CCD, các điện tích hình thành tại các pixel được chuyển ra ngoài lần lượt theo từng hàng. Có nghĩa là các tín hiệu điện này được dồn dần theo các cột tới các điện cực nằm tại một cạnh của PTNS. Cách đọc này được gọi là cách đọc nối tiếp (serial readout). Các tín hiệu thu được tại các điện cực là các tín hiệu liền (analog signals). Tất cả các quá trình xử lý như khuếch đại, lọc nhiễu, ... đều thực hiện bên ngoài PTNS.

Trong công nghệ CMOS các điện tích tại các pixel được "cân đo" tại chỗ và được chuyển thành các tín hiệu dưới dạng điện thế bởi các transistor cấy cùng vị trí với các tế bào quang điện. Các tín hiệu này cũng được khuếch đại và lọc nhiễu sơ bộ tại chỗ và được chuyển trực tiếp ra ngoài. Các đọc này được gọi là các đọc trực tiếp hoặc cách đọc song song (parallel readout). Các tín hiệu thu được từ PTNS là các tín hiệu số (digital signals). 
[IMG]

Như chúng ta thấy trong công nghệ CMOS mỗi một tế bào quang điện của một pixel còn được kèm theo các transistor khác. Vì vậy các tế bào quang điện đó không nằm sát nhau và chỉ chiếm một phần diện tích của phần tử pixel. Tính chất đó liên quan trực tiếp tới ứng dụng của CMOS trong công nghệ nhiếp ảnh và đến chất lượng những bức ảnh mà chúng tạo ra. Vì lý do tồn tại của các vi mạch tại các pixel của CMOS, cấu trúc của CMOS phức tạp hơn cấu trúc của CCD nhiều, đồng thời với cùng một mức độ phát triển của công nghệ sản xuất vi mạch (ví dụ cùng một độ phân giải của các ống kính công nghiệp dùng để cấy vi mạch) chúng ta có thể sản xuất các PTNSCCD với độ phân giải cao hơn.

Vì cấu trúc và nguyên lý hoạt động khác nhau nên CCD và CMOS có những ưu điểm và nhược điểm khác nhau rõ rệt. Điều đáng chú ý là các ưu điểm và nhược điểm đó tương xứng nhau, vì vậy chúng không dẫn đến sự loại trừ của bất kỳ công nghệ nào ra khỏi thị trường.

Như chúng ta đã biết, các pixel của CCD nếu cùng một độ phân giải với CMOS có kích thước to hơn và nằm sát nhau hơn vì vậy kích thước của chúng cũng đều hơn. Vì lí do đó các tín hiệu nhận được từ CCD có chất lượng cao hơn và ít bị nhiễu hơn. Ngược lại, nhìn từ phương diện khác vì cách đọc tín hiệu của CCD là cách đọc nối tiếp nên các tín hiệu được lần lượt chuyển ra ngoài. Vì vậy các tín hiệu đó có thể bị nhiễu thêm trong quá trình đọc. Sự gây nhiễu này có thể quan sát rất rõ rệt đối với các điều kiện sáng yếu (tương ứng với việc sử dụng độ nhậy cao trong máy ảnh). Lúc đó các tín hiệu điện tử rất yếu và chúng sẽ bị mất mát đáng kể hơn trong quá trình đọc. Một trong các điểm yếu khác của cách đọc nối tiếp là tốc độ đọc thấp hơn so với cách đọc song song.

Một nhược điểm khác mà có lẽ được các nhà sản xuất quan tâm hơn là giá thành công nghệ sản xuất CCD cao hơn CMOS, mặc dù cấu trúc của CCD đơn giản hơn CMOS. Nhược điểm đó xuất phát từ việc CCD đòi hỏi một công nghệ khác hoàn toàn trong khi CMOS được sản xuất cùng một công nghệ với các loại vi mạch khác cũng như các procesor máy tính. Vì riêng một mình một công nghệ như vậy nên dây chuyền sản xuất cũng riêng, và các PTNSCCD không thể được cắt chung từ một bánh silicon (silicon waffer) cùng với các vi mạch khác như CMOS.

Một nhược điểm nghiêm trọng nữa của CCD là nếu trong quá trình sản xuất có một pixel bị hỏng thì khi đọc tín hiệu ảnh ta sẽ bị mất cả một cột pixel. Việc này đòi hỏi quá trình sản xuất CCD phải chính xác tuyệt đối và vì vậy làm giảm hệ sô thu hoạch trong sản xuất (tỉ lệ số lượng sản phẩm không lỗi trên toàn bộ số lượng sản phẩm được sản xuất). Hệ số thu hoạch thấp dẫn đến giá thành sản xuất bị tăng đáng kể. Đối với PTNS CMOS sự hư hỏng của các pixel riêng lẻ ít được nhận ra trên bức ảnh hơn, nhất là trong những bức ảnh nhiều chi tiết.

CMOS có các phần tử bắt sáng bé hơn và thường không đều nhau hơn. Vì vậy tín hiệu nhận được từ CMOS có chất lượng kém hơn và chịu ảnh hưởng của nhiễu nhiều hơn. Nhưng nhìn từ khía cạnh khác cách đọc song song cho phép nhà sản xuất đưa các hệ thống lọc nhiễu vào cho từng pixel (per pixel noise reduction). Các hệ thống này được cấy thành các vi mạch trực tiếp trên bề mặt của PTNS CMOS. Nhiệm vụ của hệ thống này là loại trừ các tín hiệu nhiễu cố định (fixed noise hoặc còn được gọi là black frame noise). Các vi mạch này sẽ nhớ lại hình ảnh được tạo ra trong bóng tối trên PTNS CMOS ngay trước khi chụp. Sau khi chụp, các tín hiệu hình ảnh nhận được sẽ được trừ đi bởi các tín hiệu nhiễu đã nhớ trước đó và kết quả là tín hiệu cuối cùng sẽ không bị ảnh hưởng của các nhiễu cố định. Phương pháp này được thực hiện một cách tài tình bởi các kỹ sư của Canon, cho phép loại trừ đáng kể các nhiễu cố định của tín hiệu ảnh mà không "cắt" mất các chi tiết của bức ảnh (picture details).

Nếu như việc đọc ảnh trực tiếp của CMOS mang lại cho công nghệ này các ưu điểm như vậy thì việc đọc ảnh nối tiếp lại mang cho CCD một ưu điểm khác. Vì toàn bộ hệ thống điện tử xử lý ảnh của CCD nằm ngoài PTNS, việc ứng dụng CCD trong các máy ảnh đa năng hơn. Ví dụ nếu như một phương pháp lọc nhiễu mới được nghĩ ra thì người ta vẫn có thể dùng được các cấu trúc CCD cũ và chỉ phải thay thế các mạch điện tử phía ngoài chứ không cần thay đổi cả dây truyền sản xuất PTNS như trong trường hợp CMOS.

Sau hết, vì phương pháp đọc nối tiếp, PTNS CCD được coi là kẻ "phàm ăn" hơn, có nghĩa mức tiêu thụ năng lượng của nó cao hơn CMOS.

Đọc xong các phần trước của bài viết, chắc hẳn độc giả sẽ tự đặt ra cho mình câu hỏi, nếu như CCD và CMOS có những ưu điểm và nhược điểm bù trừ nhau như vậy thì sự lựa chọn giữa chúng có đáng phải lưu tâm lắm không?

Thực sự khó tìm được câu trả lời nhất quán cho câu hỏi này.

Tôi vẫn thường so sánh việc lựa chọn giữa CCD và CMOS như sự lựa chọn giữa xe hơi chạy xăng và xe Diezel. Định kiến về việc xe Diezel kém "bốc" hơn hoặc chạy ồn hơn đối với điều kiện công nghệ hiện nay đã không đúng nữa. Các định kiến về CMOS cũng như CCD cũng dần được xoá bỏ cùng bước tiến của công nghệ sản xuất ra chúng.

CCD trong nhiều trường hợp cho chúng ta khả năng tải (dynamic range) nhiều hơn và màu sắc (color rendition) tự nhiên hơn. Công nghệ CCD được làm chủ tốt từ nhiều thập niên nay vì vậy các yếu tố chất lượng của CCD chắc chắn được cân đối một cách tốt hơn. Ngược lại CCD thua kém CMOS rõ rệt đối với việc chụp ảnh với độ sáng thấp (chụp ảnh hoà nhạc, thể thao, ...). Nếu như bạn thường xuyên sử dụng độ nhậy cao (ISO800, ISO1600, ISO3200) hoặc bạn thường xuyên dùng thời gian chụp dài (long time exposer) (ví dụ trong chụp ảnh ban đêm, chụp ảnh thiên văn, ...), có lẽ bạn phải nghĩ một cách nghiêm túc đến việc sử dụng CMOS.

Nhìn từ góc độ khác, chúng ta phải tính đến rất nhiều yếu tố khác khi chọn cho mình một hệ máy. Vì vậy sự lựa chọn giữa CCD và CMOS thường bị xếp vào vị trí thứ yếu hoặc bị bó buộc bởi các sự lựa chọn khác.

Phần 5: Các chế độ chụp thường gặp trên máy ảnh


PHÂN LOẠI VÀ BỐ TRÍ CÁC CHẾ ĐỘ CHỤP THƯỜNG GẶP TRÊN MÁY ẢNH

Về cơ bản, ta chia các chế độ chụp thường gặp trên máy ảnh ra thành 3 nhóm: Chế độ chụp tự động hoàn toàn, Các chế độ chụp theo khung cảnh định sẵn và Các chế độ chụp nâng cao.

Các chế độ chụp trên máy ảnh ống kính rời (và một số mẫu máy ảnh compact cao cấp) thường được đặt trên một đĩa xoay nằm trên đỉnh hoặc phía sau thân máy với rất nhiều lựa chọn để người dùng có thể thiết lập và thay đổi thật nhanh chóng. Trong khi đó, máy ảnh compact đa phần lại sử dụng một nút gạt với 3 chế độ tối giản: chụp tự động (Auto / iAuto / smart Auto), chụp tự động với các tùy chỉnh thiết lập bằng tay (Programme) và Quay phim.

[IMG]
Đĩa xoay với rất nhiều các chế độ chụp trên máy ảnh compact cao cấp.

[IMG]
Nút gạt với 3 chế độ tối giản trên đỉnh máy: Auto (chữ A xanh có dấu +),
Programme (hình máy ảnh màu đen) và quay phim (hình máy quay).

Tuy nhiên, chế độ được đặt tên Programme (thường ký hiệu bằng hình chiếc máy ảnh màu đen) này về bản chất lại là một menu ẩn mà khi bạn lựa chọn nó, trên màn hình LCD của máy ảnh sẽ hiện ra rất nhiều các chế độ chụp tự động (cũng như nâng cao) khác để bạn có thê lựa chọn, và như vậy nó hoàn toàn khác với chế độ chụp Lập trình bằng tay (Programme) mà bài viết sẽ nói tới ở bên dưới.

CHẾ ĐỘ CHỤP TỰ ĐỘNG HOÀN TOÀN (AUTO / iAUTO / smart Auto)

Chế độ chụp tự động hoàn toàn thường được ký hiệu bằng một hình chữ nhật viền xanh, hoặc hình chiếc máy ảnh màu xanh, hoặc hình trái tim đỏ. Đôi khi chúng có thêm dấu + với ý nghĩa “intelligent”, “smart” hoặc “advanced” nhưng về bản chất giữa chúng không có sự khác biệt nhiều lắm.

[IMG]
Chế độ chụp Auto với ký hiệu hình chữ nhật màu xanh.

Ở chế độ chụp này, máy thực thi toàn bộ các khâu liên quan tới kỹ thuật như thiết lập tốc độ chụp, độ mở ống kính, ISO, đánh flash hay không đánh flash,… nhiệm vụ của người chụp chỉ là lấy nét, bố cục ảnh và nhấn chụp. Kiểu chụp này hữu ích với những người không có nhu cầu tìm hiểu sâu về nhiếp ảnh, mới sử dụng máy ảnh hoặc cần chụp một tấm hình thật nhanh trước khi khoảnh khắc trôi đi mất.

CÁC CHẾ ĐỘ CHỤP TỰ ĐỘNG THEO KHUNG CẢNH ĐỊNH SẴN (SCENE MODE)

Hầu hết mọi loại máy ảnh đều có các chế độ chụp theo khung cảnh định sẵn. Các chế độ này có thể nằm trực quan trên đĩa xoay, hoặc nằm ẩn bên trong một chế độ chụp tối giản được ký hiệu bằng hình chiếc máy ảnh màu đen như đã nói tới ở trên, hoặc bởi chữ SCN hay SCENE, tùy theo cách bố trí của từng máy.

[IMG]
Chế độ chụp SCENE hay SCN, với nhiều chế độ chụp tự động theo khung cảnh định sẵn nằm ẩn bên trong.

Sau khi xoay đĩa xoay về ký hiệu chụp này, máy sẽ đưa ra một danh sách các chế độ chụp tự động theo khung cảnh định sẵn để người chụp lựa chọn.

[IMG]
Các chế độ chụp tự động theo khung cảnh định sẵn nằm ẩn trong Scene mode:
Chân dung (Portrait), Phong cảnh (Landscape), Thể thao (Sports), Chụp đêm (Night),
Chụp trong nhà / trong buổi tiệc (Party / Indoor).

Sau đây là một số chế độ chụp tự động theo khung cảnh định sẵn bạn có thể thường gặp:

Marco : Chụp cận cảnh, thích hợp khi chụp hoa, côn trùng, máy có thể sẽ cố gắng tính toán để mở khẩu độ lớn.

Flower: Một số máy có thể có chế độ tự động riêng cho chụp hoa.

Landscape : Chỉnh về chế độ này khi muốn chụp phong cảnh, máy thường làm tốt nhiệm vụ nếu trời quang đãng, ánh sáng đủ.

Sport : Chụp ảnh thể thao, giảm mờ nhòe khi đối tượng chụp di chuyển, máy thường tìm cách nâng tốc độ chụp lên, chụp nhanh để bắt đứng hình lại.

Night : Chụp cảnh đêm, máy có thể tính toán đẩy ISO lên cao, mở rộng khẩu độ hay giãn thời gian đóng màn trập (chụp tốc độ chậm)...

Night portrait: Chụp người ban đêm, máy có thể đẩy flash on và cố gắng nhận dạng và loại bỏ hiện tượng mắt đỏ.

Night landscape: Chụp phong cảnh ban đêm.

Fireworks: Chụp pháo hoa.

Beach: Cảnh biển, thường được máy hiểu là ánh sáng nhiều, chói nắng.

Snow: Trời nhiều tuyết, sáng trắng.

Và còn rất nhiều chế độ chụp được lập sẵn khác như tự chụp mình, chụp văn bản, chụp trong nhà bảo tàng, chụp ngược sáng, trẻ em, tiệc tùng, chân dung,... khi sử dụng chế độ SCN này, máy thường cố gắng xác định vật thể cần lấy nét, đặt vật ấy vào vùng rõ nét, loại bỏ mắt đỏ và cố gắng tính toán để điều tiết ánh sáng sao cho phù hợp (tăng giảm ISO, bật hay tắt Flash…) dựa trên kho dữ liệu ảnh mẫu được tích hợp bên trong máy.

CÁC CHẾ ĐỘ CHỤP NÂNG CAO

Các chế độ chụp nâng cao là một phần không thể thiếu trên các mẫu máy ảnh ống kính rời, cũng như các mẫu máy ảnh compact cao cấp. Chúng bao gồm 4 chế độ mà hẳn các bạn đã quen tên sau khi đọc các bài viết trước trong chủ đề nhiếp ảnh của GenK: Chụp Lập trình bằng tay (Programme), Ưu tiên độ mở ống kính (Aperture Priority), Ưu tiên tốc độ chụp (Shutter speed Priority) và Chỉnh tay hoàn toàn (Manual).

Chế độ chụp Lập trình bằng tay (Programme)

Chế độ Programme thường được ký hiệu bằng chữ P.

[IMG]
Chế độ chụp Lập trình bằng tay, ký hiệu chữ P trên hầu hết mọi máy ảnh.

Ở chế độ chụp Programme, người chụp tự thiết lập một số thông số kỹ thuật như ISO, cách đo sáng (metering mode), giá trị phơi sáng (exposure value – EV), dùng hoặc không dùng flash, dựa vào đó máy ảnh sẽ tự thiết lập cặp thông số tốc độ - độ mở ống kính phù hợp. Đây là chế độ được mọi nhiếp ảnh gia khuyên dùng cho người mới bắt đầu chuyển sang máy ảnh ống kính rời.

Chế độ chụp Ưu tiên độ mở ống kính (Aperture Priority)

Chế độ chụp Apecture Priority thường được ký hiệu bằng chữ A, hoặc Av.

[IMG]
Chế độ chụp Ưu tiên độ mở ký hiệu bằng chữ Av, hoặc A.

Ở chế độ chụp này, ngoại trừ việc kiếm soát các thiết lập ISO, Metering mode, EV,… như trên, người dùng còn được phép kiểm soát độ mở ống kính thông qua phím xoay điều khiển trên máy. Máy sẽ dựa trên các thiết lập của người dùng để đưa ra tốc độ chụp thích hợp.

Chế độ chụp Ưu tiên khẩu độ thích hợp nhất đối với các thể loại ảnh chụp mà người dùng cần kiểm soát DOF, hay nói nôm na là khống chế hậu cảnh như ảnh chân dung hoặc tĩnh vật.

Chế độ chụp Ưu tiên tốc độ (Shutter speed Priority)

Chế độ chụp Ưu tiên tốc độ (Shutter speed Priority) thường được ký hiệu bằng chữ S, hoặc Tv.

[IMG]
Chế độ chụp Ưu tiên tốc độ, thường ký hiệu bởi chữ S hoặc Tv.

Chế độ này ngược với chế độ Av: máy ảnh sẽ tự chọn lựa độ mở ống kính thích hợp tùy theo thiết lập tốc độ (và các thông số khác) của người dùng.

Chế độ này sẽ hữu ích khi người dùng cần kiểm soát tốc độ chụp, trong các thể loại ảnh mà chủ thể có sự chuyển động như ảnh Thể thao, Đời thường, Sự kiện hoặc chụp trẻ em,…Việc chọn lựa tốc độ chụp nhanh hay chậm sẽ tùy thuộc vào chủ định muốn “đóng băng” hành động của chủ thể, hay tạo ra cảm giác chủ thể đang di chuyển.

Chế độ chụp chỉnh tay hoàn toàn (Manual)

Chế độ chụp Chỉnh tay hoàn toàn (Manual) thường được ký hiệu bằng chữ M.

[IMG]
Chế độ chụp Chỉnh tay hoàn toàn, thường ký hiệu bởi chữ M.

Đúng như tên gọi, người dùng hoàn toàn tự thiết lập các thông số theo chủ đích của mình.

Chế độ chụp M thường được những người đã có kiến thức về nhiếp ảnh sử dụng, bởi nó điều khiển tăng / giảm sáng linh hoạt hơn. Kiểu chụp này đặc biệt hữu ích khi chụp với đèn flash, chụp ngược sáng hoặc trong ảnh có những vùng sáng / tối chênh lệch nhau lớn

Phần 6: Những khái niệm người dùng cần lưu ý khi chụp ảnh 


Chụp ảnh là một nghệ thuật mà đã là nghệ thuật thì đương nhiên không phải ai cũng có thể thành nghệ sỹ một cách dễ dàng. Chụp được một bức ảnh xuất xắc, để đời là điều cực khó nhưng tạo ra một bức ảnh nhìn được hoặc thậm chí là đẹp không phải là một điều quá khó. Muốn vậy, các bạn phải có những kiến thức cơ bản về chụp ảnh và máy ảnh. Bài viết sau đây sẽ giới thiệu một số khái niệm cơ bản về việc chụp ảnh để các bạn có thể tham khảo.

[IMG]

Lưu ý, đây chỉ là những kiến thức hết sức căn bản, là những điều đơn giản và các thông số trong việc chụp ảnh mà người dùng bắt đầu cần lưu tâm. Cùng tìm hiểu những ảnh hưởng cơ bản, trực quan và cần tìm hiểu nhất của các thông số đó với GenK nhé!

Tiêu cự ống kính

Ống kính của máy ảnh thực chất là các hệ thấu kính được ghép với nhau. Ảnh đẹp hay không phụ thuộc nhiều vào yếu tố này. Tất cả các máy ảnh từ rẻ tiền tới đắt tiền đều sử dụng ống kính (không phải như một số người tưởng các máy PnS không có ống kính - đơn giản bởi đó là các ống kính built-in không thể tháo rời). Một trong những thông số quan trọng và cần quan tâm nhất của ống kính chính là tiêu cự.

[IMG]

Tiêu cự ảnh hưởng tới nhiều yếu tố của tấm ảnh nhưng với những người bắt đầu cần biết ảnh hưởng lớn và trực quan nhất của tiêu cự là khoảng cách chụp. Hiểu đơn giản thì với tiêu cự càng dài thì bạn càng chụp được những tấm hình ở xa và ngược lại. Đương nhiên, tiêu cự càng dài thì góc nhìn càng hẹp. Trên máy FX, tiêu cự 50 có góc nhìn tương đương với mắt người, nhỏ hơn 50 là góc rộng, lớn hơn 50 là tele. Các máy ảnh ghi Zoom quang 5x chẳng hạn tức là tỷ lệ giữ tiêu cực nhỏ nhất và lớn nhất là 5 lần chứ không hẳn là máy có thể chụp ảnh ngoài xa hơn mắt người nhìn 5 lần.

Trên các máy, bạn có thể xem thông số này ở viền ống kính được ghi dưới dạng xx.x - zz.zmm (ví dụ ở G10 là 6.1 - 30.5mm).

Khẩu độ (Độ mở ống kính)

Thông số thứ 2 cũng là của ống kính và cũng cực kỳ đáng quan tâm chính là độ mở của ống kính hay khẩu độ. Chỉ số này được tính bằng đơn vị f-stop. Hiểu đơn giản thì đây là tỷ lệ giữa tiêu cự đường kính khẩu độ. Trên máy ảnh, chỉ số này được ký hiệu: fx như: f1.4 (độ mở là nhất là 1.4).

[IMG]

Khẩu độ ảnh hưởng tới rất nhiều yếu tố của một tấm ảnh như độ nét, độ sâu trường ảnh (DOF)... Nhưng với người mới bắt đầu, ảnh hưởng cần quan tâm nhất chính là độ sáng của tấm ảnh. Đại khái, khẩu độ càng lớn (f nhỏ) thì ảnh càng sáng, khẩu độ nhỏ (f lớn) thì ảnh sẽ tối hơn. Khẩu độ là phần quan trọng để chỉnh độ sáng của tấm ảnh.

Đương nhiên, ống kính có độ mở lớn hoặc ống 1 khẩu sẽ có giá đắt hơn rất nhiều. Ví dụ như ống 18-55 f3.5 - 5.6 có giá chỉ hơn 100$ trong khi ống 18 -55 f2.8 có giá tới hơn 1000$.

Tốc độ chụp

Tốc độ chụp tương đồng với thời gian phơi sáng của bức ảnh (thời gian đóng mở cửa trập khi chụp một tấm ảnh). Thời gian này thường là 1/x s nên để tiện lợi người ta thường ký hiệu tốc độ 1/x s = x. Ví dụ, tốc độ chụp là 1/250s thì tốc độ là 250. Cỏn nếu thời gian này dài hơn 1s thì sẽ được ký hiệu là x'' ví dụ: 5'' tức là thời gian đóng mở cửa trập là 5s.

[IMG]
[IMG]
Hình ảnh mang tính minh họa.

Cũng như hai yếu tố trên, tốc độ chụp ảnh hưởng đến nhiều yếu tố của bức ảnh. Nhưng với người dùng phổ thông thì có yếu tố bị ảnh hưởng nhiều và trực quan nhất từ tốc độ chụp là ánh sáng.

Tốc độ càng nhanh, ảnh càng tối (cùng các thông số khác) và ngược lại. Ngoài ra, khi chụp ở tốc độ cao, ảnh hưởng từ việc rung tay cũng được hạn chế khi chụp ảnh. Theo lý thuyết, khi chụp ở ở tốc độ 1/ tiêu cự thì gần như triệt tiêu hoàn toàn ảnh hưởng của yếu tố này. Ví dụ: chụp với ống có tiêu cự là 50, nếu thời gian phơi sáng là 1/50s hay tốc độ là 50.

Phần 7: Vận dụng tốc độ chụp 


Nếu đã từng học qua Vật lý phổ thông, chắc hẳn bạn đọc còn nhớ rằng khái niệm về chuyển động và vận tốc đều chỉ mang tính tương đối. Một vật chuyển động hay đứng im, có vận tốc bao nhiêu còn phụ thuộc vào vật dùng để làm mốc. Ví dụ người ngồi trên ô tô đang chạy với vận tốc 60 km/h sẽ có vận tốc 60 km/h với chiếc cột đèn bên vệ đường, nhưng lại có vận tốc bằng 0 so với chính chiếc xe ô tô đó.
 
Vận dụng tính tương đối đó vào trong nhiếp ảnh, bạn đọc có thể sử dụng tốc độ chụp như một thứ công cụ vô cùng lợi hại để miêu tả lại mọi sự chuyển động của vật thể theo ý mình. Biến một dòng thác đang tung bọt trắng xóa thành những làn khói mỏng manh, hay khiến chúng vỡ vụn ra thành hàng trăm nghìn giọt nước nhỏ… đều trở thành những việc hết sức đơn giản. Và cụ thể hơn, ở bài viết này GenK sẽ hướng dẫn các bạn cách vận dụng tốc độ chụp vào hai mục đích chụp chuyển động chính:
 
“Đóng băng” một chuyển động
 
“Đóng băng” một chuyển động, tức là khi ghi lại dưới dạng ảnh chụp, vật thể đó dù đang di chuyển với tốc độ nhanh đến bao nhiêu đi chăng nữa cũng trở thành bất động. Để làm được điều đó, tốc độ chụp phải nhanh bằng, hoặc tốt hơn hết là nhanh hơn vận tốc của vật thể cần chụp.
 
[IMG]
Trào lưu chụp ảnh bay rầm rộ một thời, về bản chất chính là “đóng băng” một chuyển động trên không.
 
Ở bài viết về Các thông số cơ bản trong nhiếp ảnh, ta đã biết rằng tốc độ chụp là thời gian tính từ lúc màn trập mở ra cho tới khi nó đóng lại. Giá trị tốc độ chụp trên máy ảnh có thể lớn hoặc nhỏ hơn 1 giây:
 
- Các giá trị nhỏ hơn 1 giây, ví dụ 1/4s, 1/20s, 1/250s,… được ký hiệu dưới dạng thập phân như trên, hoặc chỉ ghi mẫu số.
 
[IMG]
 
[IMG]
Cách hiển thị giá trị nhỏ hơn 1s (bên phải là thông số về độ mở ống kính) trên màn hình máy ảnh.
 
- Các giá trị lớn hơn 1 giây, ví dụ 2s, 10s, 30s,… được ký hiệu dưới dạng 2”, 10”, 30”…
 
[IMG]
Cách hiển thị giá trị lớn hơn 1s trên màn hình máy ảnh.
 
Muốn đóng băng một chuyển động, trước tiên cần phải ước lượng được tốc độ của chuyển động đó. Tiếp theo là xác định phương của chuyển động. Ví dụ một người đang đi xe máy chạy ngang qua theo phương vuông góc với hướng máy ảnh sẽ có tốc độ (xin lưu ý rằng khái niệm “tốc độ” ở đây – như đã nói ở trên – chỉ mang tính tương đối) chuyển động nhanh hơn so với một chiếc ô tô đang chạy theo hướng trực diện về phía máy ảnh. Từ đó, ta xác định một tốc độ chụp sao phù hợp. “Giá trị phù hợp” ở đây có thể phải thử đi thử lại nhiều lần cho tới khi bạn tự rút ra được kinh nghiệm cho bản thân trong từng tình huống chụp cụ thể, chứ không có một “con số vàng” nào sẵn trước.
 
Để điều chỉnh được tốc độ chụp trên máy ảnh ống kính rời, ta có thể sử dụng chế độ chụp Ưu tiên tốc độ (Shutter-speed Priority). Chế độ này thường được ký hiệu bởi chữ S, hoặc T, hoặc Tv.
 
[IMG]
Chế độ chụp Ưu tiên khẩu độ được ký hiệu bằng chữ Tv trên máy. Chế độ chụp Thể thao có hình người đang chạy.
 
Sử dụng các phím chức năng tùy theo từng máy (bạn đọc nên đọc hướng dẫn sử dụng đi kèm với chiếc máy của mình bởi mỗi mẫu máy lại có một thiết kế khác nhau) để điều chỉnh tốc độ.
 
Lấy nét vào chủ thể đang chuyển động và nhấn chụp. (*)
 
Với các máy du lịch không có chế độ tùy chỉnh tốc độ thủ công, các bạn có thể sử dụng chế độ chụp Thể thao (Sport) hoặc chụp Trẻ em / Thú cưng (Baby / Kid / Pet) để thay thế. Cũng giống như các chế độ chụp Chân dung, Phong cảnh đã nói tới ở bài trước, các chế độ chụp này về bản chất được máy thiết lập sẵn một tốc độ chụp tương đối cao, kèm theo các phương thức tính toán về canh nét bám theo chủ thể (object tracking) (**) và sử dụng đèn flash (***) để bắt đứng hình.
 
(*)(**) Để đạt được kết quả cao nhất trong thể loại ảnh chụp chuyển động, ngoài tốc độ chụp, bạn cần phải kiểm soát được một tính năng nữa gọi là Tùy chọn lấy nét (Auto-focus settings). Thông thường chúng được chia làm 2-3 loại:
 
- Single auto-focus (AF-S): Tự động lấy nét một lần. Bạn hướng máy về chủ thể, nhấn nút chụp xuống một nửa để máy lấy nét, và nhấn tiếp đến kịch nút để chụp. Trong khoảng thời gian từ sau khi nhấn nửa nút chụp đến nhấn hết, máy không lấy nét thêm lần nào nữa dù chủ thể có rời khỏi vị trí ban đầu.
 
- Continuous auto-focus (AF-C): Tự động lấy nét liên tục. Điểm khác biệt so với AF-S là trong khoảng thời gian từ lúc nhấn nửa nút chụp cho tới khi nhấn hết, máy liên tục tái thực hiện việc lấy nét. Đây là loại bạn sẽ thường sử dụng khi chụp ảnh chuyển động.
 
- Automatic auto-focus (AF-A): Máy tự nhận biết dạng chủ thể là tĩnh hay động để chọn hoặc AF-S hoặc AF-C.
 
Ở các mẫu máy Canon, việc phân loại Tùy chọn lấy nét có thể hơi khác. Cụ thể:
 
One-shot AF: tương tự AF-S ở trên
AI Servo: tương tự AF-C
AI Focus: tương tự AF-A
 
[IMG]
Chọn AI Servo (hoặc AF-C) trong AF mode để chụp chuyển động đạt hiệu quả tốt hơn.
 
(***) Trong nhiều trường hợp, khi tốc độ chụp đã được đẩy lên rất nhanh rồi mà độ mở ống kính và độ nhạy sáng không thể mở rộng hoặc tăng lên để đáp ứng theo được thì ảnh sẽ bị thiếu sáng (tối). Lúc này, bạn buộc phải sử dụng flash như một nguồn sáng bổ sung để đảm bảo bắt đứng được chủ thể đang chuyển động.
 
Một tính năng khác sẽ hỗ trợ bạn “đóng băng” một chuyển động thành công, đó là sử dụng chế độ chụp liên tiếp (Continuous Shot). Trên máy ảnh du lịch, tính năng này thường được bố trí ngay trên phím cứng có hình chiếc đồng hồ. Khi bấm vào đây, máy sẽ hiện ra menu tùy chọn bao gồm các chế độ: Single shot (chụp đơn), Continuous shot (chụp liên tiếp) và Self-timer shot (chụp hẹn giờ). Bạn hãy chọn Continuous shot. Lúc này, máy sẽ chụp liên tiếp nhiều tấm hình cho đến khi ngón tay bạn nhả khỏi nút chụp.
 
Còn trên máy ảnh ống kính rời, chế độ này thường được đặt trong phím cứng có ghi chữ Drive.
 
Bấm vào đây và bạn sẽ có các tùy chọn Single shot, Continuous shot (một số máy còn chia thành Low Continuous shot và High Continuous shot, trong đó High Continuous shot cho tốc độ chụp liên tiếp nhanh hơn nhưng độ phân giải ảnh sẽ bị giảm), Self-timer shot, Remote-control shot (chụp với điều khiển từ xa, là một phụ kiện phải mua thêm).
 
[IMG]
Drive mode trên máy. Từ trái qua phải: Chụp đơn, Chụp liên tiếp tốc độ cao,
Chụp liên tiếp, Chụp hẹn giờ, Chụp hẹn giờ tùy chỉnh thời gian.
 
Các bạn cũng cần chú ý rằng mỗi máy có khả năng chụp liên tiếp số tấm hình khác nhau, ví dụ Canon 1D-X mới ra mắt có thể chụp liên tiếp tới 10 tấm hình/giây, trong khi Nikon D3000 thuộc dòng máy bình dân chỉ chụp được tối đa 3 hình/giây. Và sau khi chụp xong, máy sẽ mất một khoảng thời gian khá lâu để lưu tất cả hình vừa chụp vào thẻ nhớ. Một thẻ nhớ với tốc độ đọc/ghi nhanh sẽ hữu ích trong trường hợp này.
 
Miêu tả một chuyển động
 
Trái ngược với “đóng băng” một chuyển động, miêu tả một chuyển động là phương pháp tạo ra các hiệu ứng mờ nhòe chủ thể một cách cố ý. Mục đích của nó, đúng như tên gọi, là để người xem có thể cảm nhận được về không gian, phương hướng, tính chất của chuyển động. Ví dụ như trong một cuộc đua mô tô phân khối lớn, việc làm nhòe với từng vệt ánh sáng lớn kéo theo đuôi xe sẽ giúp người xem cảm nhận được tốc độ, hướng chuyển động và sức mạnh của bộ môn thể thao này. Trong khi đó với bộ môn múa nghệ thuật, một vài chuyển động mờ nhòe nơi cánh tay, vạt áo của diễn viên giúp người xem hình dung được sự uyển chuyển, sống động của vở múa. Tương tự như vậy, miêu tả ngọn gió – vốn là thứ vô hình – đang thổi trên cánh đồng cỏ lau, chỉ có thể bằng cách tạo ra những mờ nhòe rất nhẹ để người xem biết được rằng có gió khiến những ngọn lau này lung lay.
 
[IMG]
Miêu tả sự hiện diện và tính chất của gió bằng cách làm chậm chuyển động của các ngọn cỏ lau.
 
Cách chụp thể loại ảnh này cũng giống như trên, chỉ có điều thay vì thiết lập tốc độ nhanh hơn, ta sẽ chọn một tốc độ chụp chậm hơn tốc độ chuyển động của chủ thể sao cho đạt được kết quả vừa ý nhất.
 
Trong bài viết tuần sau, GenK sẽ giới thiệu với các bạn một số loại hình nhiếp ảnh chuyển động đặc sắc trên thế giới và cách thực hiện chúng. Còn bây giờ, mời các bạn hãy thử đoán xem những tấm hình sau được chụp như thế nào?
 
[IMG]
 
[IMG]
 
[IMG]
 
[IMG]


Ảnh blur motion (hay slow down)

[IMG]
Blur motion với chủ thể đứng yên là người đàn ông cầm ô (dù).

Bản chất của thể loại ảnh này là miêu tả các chuyển động thông qua việc so sánh chúng với một chủ thể đứng yên. Bằng cách đó, người chụp có thể tạo ra ấn tượng sâu sắc về sự vận động của cuộc sống và dòng chảy của thời gian. Cách chụp rất đơn giản:

- Cần một chủ thể đứng yên làm cột mốc, xung quanh là các vật thể chuyển động theo một hoặc nhiều quỹ đạo khác nhau tùy chủ ý người chụp.

- Chọn chế độ Ưu tiên tốc độ (xem lại bài viết số trước), thiết lập tốc độ chụp chậm hơn tốc độ di chuyển của các vật thể chuyển động (thường thấp hơn 1/10s).

- Đảm bảo máy không rung bằng cách đặt chúng lên một mặt phẳng cố định hoặc sử dụng tripod.

- Lấy nét vào chủ thể đứng yên và bấm chụp.

Ảnh panning (lia máy)

[IMG]
Panning với chủ thể là người bán hàng rong đạp xe trên phố khuya.

Ảnh panning hay kỹ thuật chụp lia máy là một kỹ thuật khó trong nhiếp ảnh. Ngay cả những nhiếp ảnh gia nổi tiếng cũng khó dám cam đoan mọi tấm hình mình chụp với kỹ thuật này đều thành công. Về bản chất, panning là việc đóng băng một chủ thể đang chuyển động, trong khi lại tạo ra cảm giác về sự chuyển động cho hậu cảnh theo phương chuyển động của chủ thể. Cách chụp như sau:

- Cần một chủ thể chuyển động, tốt nhất là theo phương nằm ngang trên khung hình.

- Cần một khung cảnh đủ rộng để có thể đảm bảo chủ thể sẽ nằm trọn trong khung hình trong quá trình chụp.

- Hậu cảnh nên có sự đồng nhất nhưng không trống trải để có thể nhìn rõ hiệu ứng nhòe.

- Không có các vật thể khác làm vướng khung hình.

- Thiết lập máy ở chế độ chụp Ưu tiên tốc độ, chọn tốc độ tương đối bằng với tốc độ chuyển động của chủ thể. Thông thường, với người đi bộ là 1/10s, với người đi xe đạp là 1/15s – 1/20s, với người đi xe máy và ô tô là 1/60s hoặc nhanh hơn.

- Chọn chế độ lấy nét tự động liên tục (AF-C / AI Servo) để bám nét chủ thể trong suốt quá trình lấy nét và chụp (object tracking).

- Chọn chế độ chụp đơn.

- Đứng ở vị trí vuông góc với khung hình ước lượng sẽ chụp.

- Bắt đầu lấy nét chủ thể (nhấn nửa nút chụp) từ trước khi chủ thể tiến vào khung hình sẽ chụp, giữ nét (giữ nguyên nửa nút chụp, không nhả tay ra hay bấm hết).

- Bấm chụp (nhấn hết nút chụp) khi chủ thể bắt đầu tiến vào khung hình.

- Lia máy theo phương nằm ngang, song song cùng chiều với hướng chuyển động của chủ thể cho tới khi máy chụp xong.

Yếu tố quan trọng tạo nên một tấm hình panning thành công là tốc độ ban đầu bạn chọn phải tương đối bằng với tốc độ chuyển động của chủ thể, và trong quá trình lia máy phải đều tay (không giật khựng, không lúc nhanh lúc chậm, không lúc lên lúc xuống), bám sát theo chủ thể (không vượt lên trước, không bị hụt lại đằng sau chủ thể). Trong một số trường hợp chủ thể chuyển động quá nhanh hoặc điều kiện chụp thiếu sáng quá nhiều, bạn có thể dùng thêm đèn flash để “đóng băng” chủ thể được tốt hơn.

Ảnh chụp tốc độ cao

Ảnh chụp tốc độ cao nhằm “đóng băng” một chuyển động cực nhanh, giúp ta quan sát thấy những gì mà mắt thường không kịp nhìn thấy. Cách chụp cực kỳ đơn giản, ví dụ như với tấm hình này:

[IMG]

- Chọn chế độ chụp Ưu tiên tốc độ (Tv).

- Chọn chế độ lấy nét liên tục (AF-C / AI Servo) và chế độ chụp liên tục tốc độ cao (Continuous shooting / High continuous shooting).

- Thiết lập máy ở ISO cao (ISO 800 trở lên) hoặc vào Menu, chọn ISO Auto với Minimum Shutter Speed là 1/500s.

- Nên có một nguồn sáng mạnh rọi vào quả trứng (chủ thể) để đảm bảo ảnh đủ sáng ở tốc độ cao, hoặc sử dụng đèn flash rời có công suất lớn, nạp điện nhanh để đánh sáng liên tục.

- Chăng phía sau quả trứng một phông nền đồng màu (ở đây là tấm vải màu đen) để tăng thêm hiệu quả cho ảnh chụp.

- Lấy nét vào quả trứng, khóa nét (giữ phím AF lock hoặc giữ nửa nút chụp, không buông tay ra).

- Đếm 3… 2… 1, ngay khi bóp cò súng thì đồng thời nhấn hết nút chụp và giữ không buông tay cho tới khi quả trứng vỡ tan ra.

- Xem lại hình đã chụp, bạn sẽ được một loạt hình từ khi quả trứng còn nguyên cho tới khi viên đạn chạm vào nó, xuyên qua nó (ảnh trên) và làm vỡ hoàn toàn quả trứng. Chọn tấm hình mà bạn muốn, thế là xong.

Ảnh phơi sáng

Những tấm hình phơi sáng mà bạn thường gặp đa số được chụp từ trên cao tại các cung đường đẹp, nhằm ghi lại “vũ điệu” của xe cộ thông qua các vệt đèn pha kéo dài.

[IMG]
Ảnh phơi sáng ở hầm Kim Liên.

Tuy nhiên đó không phải là chủ đề duy nhất của ảnh phơi sáng. Người ta thậm chí có thể phơi sáng vào… giữa buổi trưa, để ghi lại chuyển động của những đám mây vốn bay với tốc độ rất chậm (thực chất có thể rất nhanh nhưng do khoảng cách quá xa nên khiến ta cảm giác chúng như mấy con rùa đang bò) hoặc biến dòng nước đang chảy thành những làn khói mỏng manh. Về bản chất, ảnh phơi sáng là cưỡng ép máy ảnh chụp với tốc độ chụp cực chậm (từ vài giây tới vài chục giây, thậm chí là tính theo đơn vị phút hoặc giờ) để tấm hình được ghi lại đủ sáng, thông qua việc khép độ mở ống kính lại thật sâu, và do đó tạo ra một tấm hình với vùng DOF cực dày, nét đến từng chi tiết. Cách chụp cũng tương tự như với ảnh blur motion nhưng phức tạp hơn và yêu cầu một số thiết bị hỗ trợ:

- Chọn một nguồn sáng làm nguồn sáng chuẩn của tấm hình. Nghĩa là khi lên hình, nguồn sáng đó sẽ có giá trị EV bằng giá trị EV mong muốn cho cả tấm hình. Thông thường trong ảnh phơi sáng, đặc biệt là phơi sáng buổi tối, nguồn sáng chuẩn nên có EV thấp hơn giá trị 0. Bạn có thể thử nhiều lần, ví dụ EV = -1/3, -2/3, -1,… cho tới khi đạt được hiệu quả như mong muốn.

- Thiết lập ISO nhỏ nhất có thể (100, 200 hoặc 50 tùy từng máy). Chuyển máy về chế độ đo sáng điểm (spot metering), chế độ chụp Programme (ký hiệu chữ P). Ở chế độ chụp này, máy cho phép ta tự thiết lập ISO, máy sẽ tính toán cặp thông số độ mở ống kính – tốc độ chụp sao cho ảnh đủ sáng.

- Nếu ống kính sử dụng là ống kính dải tiêu cự thì đẩy ra đến tiêu cự dài nhất, lấy nét vào nguồn sáng đã chọn làm chuẩn ở trên

- Trong quá trình lấy nét, máy sẽ đồng thời đo sáng cho nguồn sáng đã chọn. Cặp thông số độ mở ống kính / tốc độ chụp máy chọn sẽ hiển thị trong khung ngắm. Sử dụng vòng xoay trên máy để điều chỉnh cặp thông số này sao cho tốc độ chụp từ 15s trở lên, độ mở ống kính càng nhỏ càng tốt, thậm chí là f/22.
- Ghi nhớ cặp thông số này.

- Chuyển máy về chế độ chụp Manual (ký hiệu chữ M) và thiết lập sẵn cặp thông số tốc độ chụp – độ mở ống kính vừa ghi nhớ (*).

- Tắt bỏ chống rung trên ống kính, tắt bỏ tính năng khử nhiễu khi chụp ở phơi sáng dài (Long Exposure Noise Reduction), tháo bỏ kính lọc UV trên ống kính nếu có.

- Đặt máy trên tripod hoặc mặt phẳng vững chắc, vì thời gian chụp rất dài, tay người không thể giữ nổi, chuyển máy sang chế độ chụp hẹn giờ(**).

- Điều chỉnh ống kính về tiêu cự như mong muốn, lấy nét vào chủ thể mình chọn (nhấn nửa nút chụp), vẫn giữ nguyên nửa nút chụp bằng ngón trỏ tay phải, tay trái cùng lúc gạt máy (hoặc ống kính) sang chế độ lấy nét bằng tay (manual focus). Sau đó có thể buông tay khỏi nút chụp (***).

- Bố cục hình theo ý muốn, chú ý lúc này không được di rời máy ra khỏi khoảng cách tới chủ thể đã đặt lúc lấy nét, nếu không ảnh sẽ mất nét.

- Bấm chụp, vì là chụp hẹn giờ nên máy sẽ đếm ngược một khoảng thời gian trước khi chính thức chụp. Quá trình chụp diễn ra rất dài (vài chục giây) nên cần đảm bảo không có bất cứ tác động nào làm rung máy cho tới khi ảnh review hiện lên trên màn hình LCD.

(*) Sở dĩ ta phải sử dụng 2 chế độ chụp phức tạp như vậy là vì:

- Chế độ chụp Programme về bản chất gần giống chế độ chụp Auto, chỉ thêm ở chỗ ta có thể tự thiết lập điểm lấy nét, ISO, cân bằng trắng và đèn flash mà thôi. Bằng cách sử dụng chế độ chụp Programme, ta nhờ máy tính toán hộ thông số về độ mở ống kính và tốc độ chụp. Lưu ý là ở lần lấy nét này (lấy nét lần 1), ta lấy nét vàonguồn sáng chuẩn của tấm hìnhsẽ chụp chứ không phải lấy nét vào chủ thể của tấm hình(lấy nét lần 2)mục đích là để máy thực hiện việc đo sáng và cho ta cặp thông số cần thiết mà thôi.

- Nếu vẫn sử dụng chế độ chụp này để thực hiện lần lấy nét thứ 2 thì vì tính chất auto của nó, máy sẽ lặp lại quy trình đo sáng thêm lần nữa. Bởi vì ánh sáng của chủ thể tấm hìnhvà ánh sáng của nguồn sáng chuẩnkhông phải lúc nào cũng là một, nên lần đo sáng thứ 2 này vô tình sẽ làm mất đi cặp thông số mà ta cần ở bước trước.

- Chế độ chụp Manual giúp ta giải quyết vấn đề đó. Bởi đây là chế độ chỉnh tay hoàn toàn, nên ta có thể thiết lập cho máy cặp thông số đã ghi nhớ từ lần lấy nét 1, và máy sẽ không tự động đo sáng lại trong lần lấy nét 2 nữa.

(**) Trong quá trình bấm chụp, ta có thể vô tình ấn mạnh tay khiến máy bị rung lắc theo chiều chúi xuống, kết quả là ảnh sẽ bị nhòe do tốc độ chụp vốn đã rất chậm. Sử dụng chế độ chụp hẹn giờ là để máy có quãng thời gian (từ lúc nhấn chụp và thả tay cho tới khi thực sự chụp) triệt tiêu sự rung máy này. Tuy nhiên với chế độ chụp hẹn giờ trên máy, tốc độ chụp lâu nhất mà máy đạt được thông thường chỉ ở mức 30s. Trong khi đó trong nhiều hoàn cảnh đặc biệt, thời gian chụp có thể phải lên đến hàng giờ mới tạo được hiệu ứng về ánh sáng như mong muốn. Lúc này bạn sẽ cần một dây bấm mềm, là một tay cầm điều khiển (remote) gắn liền với máy. Bạn thiết lập tốc độ chụp trên tay cầm điều khiển này, bấm chụp cũng trên tay cầm điều khiển này, nên không cần phải đặt máy ở chế độ hẹn giờ nữa.

(***) Khi chúng ta thực hiện thao tác lấy nét, thấu kính bên trong ống kính sẽ xê dịch tới vị trí mà chủ thể đạt được độ nét tối đa. Lúc này, chuyển máy (hoặc ống kính) sang chế độ lấy nét tay nhằm mục đích cố định thấu kính ở vị trí đã lấy nét. Bởi trong quá trình chụp (vốn rất dài), bất cứ một vật thể không ngờ đến nào đó vô tình lạc vào khung hình cũng có thể khiến máy lầm tưởng đó là chủ thể mới, và tự động thực hiện lại việc lấy nét vào đối tượng mới đó. Kết quả là hình chụp ra không nét vào cái gì cả.

Hình chụp phơi sáng nghe có vẻ rất phức tạp, nhưng thực hiện thử vài lần (có thể bỏ qua 1 bước nào đó ở trên hoặc thay đổi chúng theo hướng bạn suy nghĩ rằng như thế mới đúng) và dựa vào sự sai khác về kết quả đạt được, bạn sẽ tự hiểu ra những điều còn khúc mắc. Cũng cần lưu ý rằng đây là kinh nghiệm chụp phơi sáng của bản thân tác giả, và Genk lựa chọn theo tiêu chí đảm bảo mức độ thành công cao nhất cho bạn đọc, còn với nhiều người khác, trong nhiều điều kiện chụp khác nhau có thể sẽ có các cách phơi sáng của riêng họ.

Để phơi sáng được vào giữa buổi trưa, bạn đọc sẽ cần một kính lọc gọi là ND filter. Kính lọc này gần giống như một chiếc kính râm chất lượng cao, gắn vào thấu kính trước của ống kính, khiến ống kính tối đi như thể đang chụp buổi đêm vậy. Và do đó thời gian chụp sẽ bị kéo dài ra so với thực tế ánh sánh tại thời điểm chụp.


chúng ta đã tìm hiểu về kĩ thuật chụp ảnh phơi sáng, ảnh chụp tốc độ cao, lia máy (panning) và blur motion. Như đã hứa, trong bài viết này tôi sẽ gửi đến độc giả cách chụp ảnh bay - trào lưu đã từng "gây sốt" một thời và một số kỹ thuật khác.
 
Ảnh Light Painting hay “vẽ tranh” bằng ánh sáng
 
Light Painting là một kỹ thuật kết hợp giữa sử dụng đèn hay vật liệu phát sáng nào đó để vẽ hình hoặc viết chữ trong không trung và phơi sáng trong thời gian dài. Chúng ta đều biết tốc độ chụp chính là khoảng thời gian từ khi màn trập mở ra cho tới khi đóng lại. Và trong suốt quãng thời gian này, bất kỳ nguồn ánh sáng nào từ bên ngoài lọt vào trong máy ảnh đều sẽ được cảm biến ghi lại. Bằng cách kéo dài thời gian phơi sáng, một người có thể viết lần lượt từng chữ cái để tạo thành một từ dài – miễn làm sao bắt đầu và kết thúc trong khi màn trập còn đang mở - và máy ảnh sẽ ghi lại được hết trên một tấm hình. Cách chụp như sau:
 
- Nên chụp vào buổi tối, chọn nơi có hậu cảnh đơn giản, đồng màu, hạn chế các nguồn sáng, chủ thể không liên quan.
 
- Người vẽ hình (viết chữ) mặc trang phục đồng màu với hậu cảnh là tốt nhất.
 
- Người vẽ hình (viết chữ) sử dụng đèn LED hoặc đèn pin có nguồn sáng tập trung, đứng vào khung hình.
 
- Người chụp thiết lập máy ở chế độ M (chỉnh tay hoàn toàn), thời gian chụp là vài giây tùy theo độ dài của hình vẽ (chữ viết). Người vẽ hình (viết chữ) nên vẽ (viết) thử vài lần để người chụp đếm giờ trước.
 
- Người chụp thiết lập máy ở ISO Auto, độ mở ống kính từ f/3.5-5.6 để đảm bảo vùng DOF đủ dày, bao trọn được toàn bộ hình vẽ (chữ viết).
 
- Người vẽ hình (viết chữ) đứng vào trong khung hình đã bố cục cẩn thận. Người chụp lấy nét vào người vẽ hình (viết chữ) và đo sáng sao cho EV = -1. Chuyển máy sang chế độ MF (manual focus).
 
- Người chụp hình ra hiệu bắt đầu chụp thì người vẽ hình (viết chữ) bắt đầu vẽ (viết), sao cho thời gian bắt đầu và kết thúc nằm trọn trong khoảng thời gian màn trập mở ra rồi đóng lại. Và phải canh làm sao để khung hình đủ rộng để bao trọn được hết cả hình vẽ (chữ viết).
 
- Nếu người vẽ hình (viết chữ) di chuyển đủ nhanh và nhịp nhàng thì khi chụp xong, hình chụp sẽ có chữ viết với độ sáng đều nhau, người vẽ (viết) sẽ chỉ là một chiếc bóng lờ mờ lẫn vào trong hậu cảnh. Nếu người vẽ (viết) hiện ra quá rõ, có thể dùng phần mềm để xử lý hậu kỳ rất đơn giản. Đây cũng là lý do người vẽ (viết) cần phải mặc trang phục đồng màu với hậu cảnh, và hậu cảnh nên đơn giản, tối màu.
 
[IMG]
 
[IMG]
Trong hình minh họa thứ 2, ta vẫn có thể thấy có bóng người di chuyển liên tục đằng sau hình vẽ.
 
Ảnh bay
 
Có lẽ bây giờ mới nói về ảnh bay thì đã không còn hợp thời nữa. Tuy nhiên, GenK vẫn xin được hướng dẫn các bạn cách chụp ảnh một thời rất thịnh hành này, để nắm được rõ hơn sức mạnh và cách sử dụng tốc độ chụp sao cho hữu ích.
 
Ảnh bay đơn giản là ảnh “đóng băng” một chuyển động trên không trung. Điều quan trọng nhất nằm ở sự tự nhiên trong chuyển động của chủ thể, và các chi tiết hợp lý, ăn khớp với không gian xung quanh (ví dụ tóc không bị bay ngược lên phía trên…) Điều này đòi hỏi chủ thể phải thực sự biết “diễn”, động tác bay phải thanh thoát, khi bật lên độ cao tối đa trong không trung phải đạt được tư thế thoải mái và thần thái gương mặt tự nhiên như khi đang đứng trên mặt đất.
 
Về phía người chụp, khi chọn khung cảnh cần lưu ý góc chụp sao cho có sự tách biệt thật rõ ràng giữa phần mặt đường bên dưới và chủ thể đang bay. Bởi nếu không, vì tính chất 2D của ảnh chụp, người xem sẽ không nhận thấy rõ ràng rằng chủ thể đang bay trên không trung.
 
[IMG]
Ở ảnh bay này, gương mặt và dáng điệu của chủ thể hơi cứng, và đặc biệt
vì phần mặt đất bên dưới lấp hết chiều ngang khung hình cũng như trải
dài về phía sau theo hướng dốc dần lên, nên dễ gây cảm giác rằng chủ thể chỉ
cách phần cao nhất của mặt đất một chút xíu. Nguồn ảnh: Internet.
 
[IMG]
Cũng vẫn như vậy, nhưng ở một góc chụp cao hơn và song song hơn so với mặt đất, ảnh này
không khiến người xem có cảm giác “phi lý” về độ cao trên không trung của người bay.
 
Cách chụp ảnh bay như sau:
 
- Chủ thể không nên chọn những bộ trang phục có quá nhiều chi tiết dễ bị hất ngược lên trên trong lúc bay như vòng cổ, dây thắt lưng dài,…
 
- Người chụp bố cục khung hình, bàn luận với người bay về hành động họ sẽ làm trong không trung sao cho phù hợp với khung cảnh xung quanh.
 
- Chuyển máy về chế độ Tv (Ưu tiên tốc độ chụp), thiết lập tốc độ chụp 1/250s hoặc để ISO auto sao cho tốc độ chụp tối thiểu (minimun shutter speed) là 1/250s. Chế độ bắt nét liên tục (AF-C hay AI Servo). Chế độ chụp liên tục (Continuous shooting).
 
- Người bay đứng vào khung hình theo tư thế chuẩn bị bật nhảy. Người chụp lấy nét và khóa nét vào phần đỉnh đầu của người bay. Mục đích là để khi người bay bật nhảy lên cao, máy sẽ không phải căn chỉnh lại nhiều để bám theo đối tượng lấy nét.
 
- Đếm 1… 2… 3, người bay vừa nhún chân xuống để bật nhảy là người chụp bấm chụp liên tục luôn cho tới khi người bay chạm đất.
 
- Để ảnh bay đạt được hiệu quả ưng ý, máy ảnh cần phải là loại có khả năng chụp nhanh (từ 4 khung hình/giây trở lên). Cũng nên lựa chọn loại thẻ nhớ có tốc độ đọc/ghi cao nếu không muốn sau khi chụp xong, phải ngồi đợi một lúc cho tới khi máy ghi xong dữ liệu vào thẻ.
 
- Có rất nhiều bạn thử cố gắng chụp ảnh bay bằng máy du lịch nhưng không thành công. Nguyên nhân chủ yếu là do tốc độ chụp liên tiếp của máy du lịch quá thấp, và độ trễ từ khi canh nét – bấm chụp tới khi máy thực sự chụp là rất lớn.
 
Bởi vậy nên nếu muốn chụp ảnh bay bằng máy du lịch (không có các chế độ chụp Ưu tiên và chỉnh tay hoàn toàn), bạn đọc nên chuyển máy về chế độ chụp Sport (hoặc Pet / Baby) và thử trước vài lần, mỗi lần từ lúc canh nét – bấm chụp tới khi máy thực sự chụp hãy lẩm nhẩm đếm trong đầu để ước lượng khoảng thời gian trễ giữa chúng. Vì máy du lịch không thể chụp liên tiếp ở tốc độ cao nên cần phải “tiết kiệm” số lần chụp. Thay vì bấm và giữ nút chụp ngay từ lúc người bay nhún chân giậm nhảy, hãy đợi tới khi người bay bắt đầu bật chân lên thì hãy bấm máy. Cũng tránh đứng từ xa zoom máy lại gần, vì càng zoom xa thì độ mở ống kính càng khép lại, tốc độ chụp sẽ càng bị giảm xuống.
 
Ảnh chụp pháo hoa
 
Pháo hoa về bản chất cũng là một cảnh chuyển động, và một tấm hình chụp pháo hoa đẹp là tấm hình ghi lại được chuyển động đó. Tuy nhiên, các loạt pháo hoa thường được bắn nối tiếp nhau, và nếu chọn thời gian chụp quá dài thì sẽ dễ dẫn đến hiện tượng chồng chéo hình, không đẹp. Vì thế, thời gian chụp phải dài nhưng vừa đủ. Cách chụp như sau:
 
- Sử dụng tripod vì thời gian chụp thường kéo dài vài giây.
 
- Thiết lập ISO thấp nhất có thể.
 
- Đưa máy về chế độ lấy nét bằng tay (manual focus), vặn vòng lấy nét về biểu tượng + ∞.
 
- Chuyển máy về chế độ chụp Manual. Thiết lập độ mở ống kính từ f/8 – f/11.
 
- Sử dụng dây bấm mềm để có thể lựa chọn thiết lập tốc độ dạng Bulb (ký hiệu bằng chữ B). Tốc độ chụp Bulb là tốc độ chụp mà máy không giới hạn khoảng thời gian cụ thể. Màn trập mở ra khi ta bấm chụp rồi giữ nguyên phím chụp, và đóng lại khi ta nhả phím chụp ra. Để chụp ảnh pháo hoa, ta bấm phím chụp ngay khi pháo hoa sắp sửa nổ (thường nghe thấy tiếng rít chíu chíu), nhớ giữ nguyên tay bấm phím chụp cho đến khi pháo nổ vào rơi thành từng dải xuống, lúc đấy hãy nhả nút chụp ra. Khoảng thời gian này thường kéo dài khoảng vài giây. Bạn cũng có thể thử nghiệm với từng mức thời gian định sẵn để xem kết quả, nhưng thời gian tự định sẽ giúp bạn được chủ động hơn.
 
[IMG]
Với máy du lịch không thể thực hiện được cách chụp trên, bạn đọc có thể sử dụng chế độ chụp Fireworks,
vẫn nên có tripod để đảm bảo ảnh chụp không bị rung nhòe.

 

0 nhận xét:

Đăng nhận xét