Thứ Tư, 6 tháng 3, 2013

NHÂN ĐIỆN VÀ THÔI MIÊN

Trong vu thuật còn có nhiều thuật thần bí, nhưng nhiêu thuật phát sinh ra dùng để tà mị mọi người rất nhiều. Trong đó có thuật thôi miên hay còn gọi là thuật nhiếp hồn.

Người biết dùng thuật thôi miên phải có đôi mắt sáng và có nhân điện cao, mới có thể khuất phục được người khác. Chúng ta thường thấy một vu sư trước khi thôi miên ai, đôi mắt họ mở to, không chớp, lòng đen trắng lóng lánh, vì rằng họ đang sử dụng đến nhân điện dùng đôi mắt chiếu tia điện thẳng vào mắt người khác, cùng những lời thì thầm như đọc bùa chú, còn hai bàn tay cứ quơ qua lại trước mặt đối tượng.

Người bị thôi miên sẽ bị cuốn hút vào đôi mắt sáng ấy trong trạng thái mất phương hướng, tinh thần trống rỗng và suy sụp mau lẹ sau những câu nghe như ru ngủ. Đấy là lúc người bị thôi miên mê sảng, mất phần hồn chỉ còn là cái xác vô tri thức.

Như đã nói người sử dụng thôi miên phải có nhân điện cao ngoài đôi mắt sáng, muốn phá thôi miên ít nhất người bị thôi miên có phải tần số nhân điện lớn hơn hoặc bằng họ. Hoặc nếu không là dòng điện Âm chọi lại với dòng điện Dương và ngược lại.

Tác giả Michael Halbert trong cuốn “Thần giao cách cảm” cho biết, muốn luyện môn thôi miên phải tập từ nhỏ, có chế độ ăn uống với nhiều chất đạm và những thực phẩm giàu chất kim loại như sắt, kẽm, mangan… vì những chất này sinh ra điện tích trong người mang tần số cao.

Ngoài ra hằng ngày phải ngồi Thiền bất định trong nhiều giờ, đôi mắt phải chăm chú nhìn vào tâm một vật thể không được chớp. Khổ luyện thành công là khi, dùng ánh mắt nhìn vào vật trong một giờ mà không chớp, từ nhân điện mới có thể thôi miên nhiếp hồn đối tượng. Thật này còn có thể đọc được ý nghĩ trong đầu kẻ khác, tức thực hiện được cả môn “thần giao cách cảm”, còn được gọi là người có “giác quan thứ sáu”.

Trong nhân điện có người tích lũy được điện Âm hay điện Dương; người có điện dương chỉ nhiếp hồn được người có tần số điện dương thấp hơn, nếu là nguồn điện âm chỉ có thể nhiếp hồn được người có dòng nhân điện âm thấp hơn. Khi điện Dương gặp người mang tính điện Âm cao, sẽ không thể thôi miên được, vì khi Âm Dưong gặp nhau sẽ sinh biến đổi, như dòng điện Âm Dương khi gặp nhau sinh ra cháy nổ.

Với nhân điện, chúng ta thường nghe nói đến những người có biệt tài, chân tay sờ nắn được dòng điện mà không bị giật, hay dùng thân nhiệt đưa 2 dòng điện Âm Dương cho cháy sáng bóng đèn v.v…

Trên đây là thuật dùng nhân điên để thôi miên nhiếp hồn, còn những người biết vu thuật thường biểu hiện trạng thái tự thôi miên và thôi miên người khác mà không qua tập luyện, như người “cầu Thần nhập xác” bằng hình thức như :

1/- Nhảy múa : vào thời đại vua chúa, nhảy múa là bộ phận không thể tách rời trong đời sống cung đình. Nên các thần linh hiển thánh đa số là các ông hoàng, bà chúa,các quan tướng từng sống trong môi trường ấy. Nên nhảy múa được coi là biểu hiện cho tính chất nguyên thủy, đưa các vị Thần Thánh dễ hòa nhập với xác hơn.

Đồng thời nhảy múa theo tiếng nhạc, lời ca sẽ đưa những ông bà đồng bước vào trạng thái như tự bị thôi miên, thần trí mê sảng, có ảo giác qua hiện tượng “thần giao cách cảm” hay “giác quan thứ sáu”, “tự kỷ ám thị”, từ đó não bộ bị hôn mê phấn kích làm dễ dàng bộc lộ sự liên kết giữa người và thần thánh.

2/- Che mặt : người lên đồng có khăn phủ diện, người đồng cốt có quạt hoặc hai tay che lấy mặt, người sa-man giáo khi đánh đồng thiếp thì nhắm nghiền đôi mắt, đầu cúi xuống chờ thần linh giáng vào. Khi thần linh nhập xác, bấy giờ mọi người mới được nhìn rõ mặt.

Đây là phương pháp bước vào thế giới tâm linh, che mặt dùng để tập trung tư tưởng, định thần, không bị phân tâm trước những ánh mắt tò mò của mọi người đang nhìn. Đây cũng thuộc trạng thái để tự thôi miên.



Nhảy múa và che mặt là hai điểm chính yếu, khi các ông bà đồng tiến hành việc “cầu Thần nhập xác”, ngoài ra còn có những hình thức biểu hiện khác :

- Hun khói : tức dùng lửa, dùng nhang đang cháy (thường cả bó nhang) cho có khói bốc to; các dân tộc ít người (như thầy mo trên cao nguyên) dùng cành cây, rễ cây, lá cây chưa khô hẳn, đốt cho có khói thật nhiều. Đây chỉ là tục lệ, vì mọi người cho rằng các thần linh thường hay cuỡi mây bay xuống nhập vào làn khói để nhập xác.

Nhưng thật ra, việc hun khói là cách khiến cho tư tưởng không bị phân tán, do phải chăm chú cách tránh khói cay bay vào mắt, đôi mắt đôi khi phải nhắm lại là lúc họ đang tự thôi miên chính mình.

- Soi gương : trong buổi lễ lên đồng mời Thánh, trước mặt người đánh đồng thiếp đều đặt một cái gương soi. Đây có lẽ cũng theo tục lệ xưa, vì bây giờ gương soi có thể chỉ để nhìn lại cách trang phục có đúng với giá Thánh nhập hay không mà thôi.

Theo tục xưa, vị vu sư dùng gương để tiến hành đánh đồng thiếp (cầu Thần nhập xác), khi đó cho thân chủ ngồi đối diện trước một tấm gương, bên trái đặt 1 chén gạo có cắm 3 cây nhang. Khi cho thân chủ đi vào cõi âm, vị vu sư ra lệnh cho người này tập trung tinh thần đưa mắt nhìn vào tấm gương không chớp mắt, vị vu sư ở phía sau đốt bùa niệm chú rồi nhón tay lấy một ít gạo rải lên gáy thân chủ đang ngồi đồng.

Chỉ một lát người ngồi đồng liền thể hiện trạng thái cưỡi ngựa, chân dẫm chân đạp, miệng bắt đầu kể đường xuống âm phủ, tìm linh hồn người chết ra sao, và đang nói chuyện với linh hồn người chết như thế nào v.v… Đó là cách các vu sư làm người ngồi đồng tự thôi miên chính mình, đi vào trạng thái ảo giác…

BÙA CHÚ


Vào thời Pháp thuộc ở nước ta khám phá trên Thất Sơn có hàng loạt vụ giết người luyện phép, có rất nhiều cô gái còn đồng trinh bị giết chết không do bị hãm hiếp, mà vì các đạo sĩ dùng xác các cô để luyện bùa “thiên linh cái”. Sau năm 1975 chúng ta cũng phát hiện một pháp sư giết hại ba cô gái còn trinh trắng để luyện thứ bùa yêu này.

Vậy bùa “thiên linh cái” có thật sự đúng như lời đồn đại, chỉ cần quyệt nhẹ mùi hương của nó vào người ai, tức thì người đó mất hết tri giác, nghe theo lời không chút phản kháng, như chứng bệnh “liệu” ?

Cũng theo lời đồn, bùa “thiên linh cái” ngoài công dụng bắt đối tượng phải nghe theo người sử dụng, thuộc vào dạng “bùa mê thuốc lú”, nó còn có tác dụng quấy rối tình dục để đối tượng dễ dàng sa ngã vào vòng tay người khác giới.

A/- Bùa mê thuốc lú :

Theo các đạo sĩ chân chính cho biết, có nhiều pháp sư, thầy pháp học được môn bùa này từ các ông Lục thuộc phái thầy tụng (tức thầy cúng, thây pháp). Những ông Lục này thường được mọi người tán tụng là cao tay ấn biết các thuật nhiếp hồn, gọi hồn người chết về trò chuyện, hay luyện ngải tìm trầm, luyện các loại “bùa Lỗ ban”, loại bùa mê thuốc lú, nhất là môn luyện “thiên linh cái”.

Để luyện nó cần có xác một cô gái còn đồng trinh, trên mộ trồng những cây chuối hột; khi cây chuối đơm hoa kết nải tức bắt đầu thu hoạch được thứ bùa yêu này. Tuy nhiên cách luyện bùa không chỉ dễ dàng như thế, bởi hằng đêm họ phải ra nằm ngủ dưới thân cây chuối, từ khi thân chuối chỉ cao hơn nửa thước cho đến khi thân cây đã trĩu nặng những buồng, những nải.

Trong thời gian nói trên, ngoài việc lập trang thờ nạn nhân, hằng ngày còn cúng cơm ba bữa, ban đêm ra ngủ bên thân chuối, ve vuốt thân cây như ve vuốt người vợ đầu gối tay ấp. Thời gian kéo dài đến lúc các trái chuối đã chín vàng.

Còn từ khi cây chuối trổ hoa, mỗi buổi sáng tinh mơ sương mai còn đọng trên các bông, các quay lá, họ phải hứng từng giọt sương cho vào lọ. Các trái chuối chín thì bóc lấy hột phơi khô. Nước sương mai hòa cùng dầu thơm để thành “bùa mê thuốc lú”, còn hột được tán nhỏ thành chất kích dục. Họ còn phải chôn dưới đất đủ 49 ngày để mang âm khí, để trên trang thờ đủ 100 ngày cho có dương khí, mỗi đêm cầu thần niệm chú, như thế mới linh ứng.

Còn trong thực tế rất ít người dám luyện “thiên linh cái”, thứ nhất bởi có thể gây ra án mạng nếu không may mắn tìm được xác nữ đồng trinh vừa qua đời, thứ hai ngày đêm phải sống găn bó với ma quỷ; còn giết người lấy xác có thể dẫn đến hậu quả hồn ma báo oán, làm cho tan cửa nát nhà, tù tội, thứ ba trong luyện bùa còn phải biết các câu thần chú  để đọc hằng đêm v.v…

Nên nhiều người lấy danh nghĩa là bùa “thiên linh cái” hay những thứ bùa ngải khác, nhưng thực chất là dùng y thuật cổ truyền từ các sách thuốc, như lấy sừng lấy pín và tinh hoàn của dê đực, lấy nhủ hoa của dê cái, hay lấy xương cọp nấu thành cao, giết gấu lấy mật, lấy tay gấu làm thuốc tăng lực. Vùng Tịnh Biên tỉnh An Giang, người dân còn đi bắt các loại côn trùng như bò cạp, rắn rết, nhền nhện hùm, tắc kè, bổ củi, sống trong mấy gò đất, bụi rậm quanh triền núi bán cho các đạo sĩ đưa về chế thành “bùa mê thuốc lú”.

Bò cạp trị được bệnh yếu sinh lý cho nam giới, bệnh nhức mỏi cho người già, còn nhền nhện hùm hay con rết trị được chứng thấp khớp, đau thần kinh tọa, với trẻ em nhền nhện trị được cả bệnh hen suyễn.

Thứ nào dùng làm thuốc trị bệnh họ ngâm với rượu, còn thứ chế biến “bùa mê thuốc lú”, tùy theo tính chất của mỗi con vật mà khai thác, như hải mả, đuôi bò cạp phơi khô tán nhuyễn cho uống nhằm tăng cường khả năng sinh lý, dùng valium tán với hoa phù dung để có “bùa mê” v.v…

B/- Bách nhật ngải :

Nói về ngải như loại “ngậm ngải tìm trầm”, theo tương truyền ở vùng phía nam Trung Bộ nước ta, có loại cây có tên gọi “bách nhật ngải” mọc tự nhiên trong rừng sâu, những người đi rừng cho rằng nếu ngậm được cây “bách nhật ngải” – cây ngải 100 ngày – đi rừng không còn sợ thú dữ, không sợ rừng thiêng nước độc, mắt trông thấu xuống lòng đất, có thể biết nơi nào có trầm hương hay kỳ nam.

Nhưng nếu để quá 100 ngày trong miệng mà không nhả, người sẽ mọc lông, mọc đuôi, thành cọp.

C/- Các loại phù chú :

Trong thành phố đất hẹp người đông, tìm cho gia đình môt căn nhà lý tưởng vừa ý theo địa lý phong thủy không dê dàng. Và tính sùng bái thần quyền còn đậm sâu trong tâm linh mỗi người, nên mọi người thường dùng đến phù chú để sửa những căn nhà không hợp hướng hay không đủ sắc khí xét theo dương trạch.

Vào đời tiền Hán bên Trung Quốc đã có tục làm phù, tức dùng thân tre dài sáu tấc tính theo đơn vị xưa (một thước Tàu ngày xưa bằng 40 phân ngày nay), có hai mảnh giống nhau ghép lại. Lúc đó phù có uy quyền, bởi do Hoàng Đế gửi cho mọi người. Sau đó các pháp sư cho rằng thần linh cũng có phù để cho mọi người, nên đặt tên là “thần phù”.

Ban đầu cho xuất hiện loại “đào phù” dùng xua đuổi tà ma, lấy câu chuyện của Quách Phác (đời Tấn, năm 276 – 324) viết trong “Huyền Trung Ký”, kể lại chuyện :

- Phía nam kinh thành có núi Đào Đô, trên núi có cây đào to lớn cành lá xum xuê, và trên đỉnh cây có con gà trời đậu trên đó. Khi mặt trời mọc chiếu vào cây đào, con gà trời liền gáy vang báo hiệu một ngày mới đã đến. Bên dưới gốc cây đào có hai vị thần, bên tả tên Long bên hữu tên Viên. Hai vị thần tay cầm một nhành đào, đợi lúc quỷ dữ đi đêm về qua bất thần giết chết chúng (theo tương truyền, hai vị thần Long Viên còn có tên Thần Đồ và Úc Lũy).

Từ đó loan truyền cành đào trên Đào Đô sơn có thể trừ được tà ma quỷ dữ, bọn chúng khi thấy cây đào, hoa đào, hay trái đào đều muốn lánh xa. Mọi người rất tin nên đổ xô lên Đào Đô sơn chặt lấy cành đào, hoa đào hay trái đào mang về, dùng làm vật trấn loài yêu ma quỷ quái trước cửa nhà.

Các pháp sư làm “đào phù” bằng cách cho vẽ cành đào, hoa đào hay người cầm trái đào tiên, cho dán trước cửa (theo tương truyền Hoàng Thạch Công là người đầu tiên sáng tạo ra “đào phù”). Đến ngày nay vào dịp tết, mọi nhà thường trưng hoa đào, vừa trang trí đón xuân, vừa mang ý nghĩa xua tà đuổi ma.

ần dần có người muốn tờ “đào phù” không chỉ dán trước cửa nhà được năm ba ngày rồi hư hỏng, họ muốn để đạo phù hiện hữu quanh năm cho đỡ tốn kém, nên “đào phù” bắt đầu được làm bằng gỗ đào chỉ to bằng khổ sách, trên mặt khắc hình hai ông “thần giữ cửa” tức Thần Đồ và Úc Lũy, trong “đào phù” còn viết những “câu chú” giản dị, đặt nơi ma quỷ thường xâm phạm, nếu thấy phù phải tránh xa.

Đào phù có 12 miếng, viết từ chi Tý đến chi Hợi, nhà nào thuộc hướng chi nào lấy đào phù theo chi ấy.

Theo các sách, “đào chú” ra đời vào đầu thế kỷ thứ 3 và vào cuối thế kỷ trên đã biến dạng, bởi “đào phù” không nhất thiết phải vẽ trên ván đào, có khi làm bằng lá kim loại, vẽ trên gương, hay trên vải, trên giấy miễn sao giữ được lâu ngày. Bấy giờ không còn gọi “đào phù” mà thay bằng tên gọi “phù chú” hay “bùa chú”.

1/- Phù Trấn Trạch : Trong thuật xem địa lý phong thủy đặc biệt về dương trạch, nếu thấy căn nhà có họa dữ hoặc xảy ra sự việc bất tường, các thầy tướng địa thường dùng một số cách để cứu vãn, nhằm hóa hung thành kiết, gặp dữ hóa lành.

Theo Dũ Tín trong cuốn Dũ tử sơn tập – Tiểu nguyên phú, có câu “Dùng mai thạch trấn trạch thần, dùng gương soi trấn sơn tinh” (là 2 loại dùng trừ khử các ác thần).

Thông thường phù chú được viết trên giấy thô màu vàng, dùng để đeo trong người hay treo dán trước cửa nhà, hoặc để trong nhà, chôn xuống đất trừ họa tai.

- Loại phù “Ngũ nhạc trấn trạch” gồm 5 loại, chia ra trung tâm và bôn hướng Đông Tây Nam Bắc, khi gia chủ bất an hoặc thấy bất lợi về mặt vật chất hay tinh thần, dùng một trong năm loại phù này mà dán ở tâm cửa ra vào .

- Phù “Thập nhị niên thổ phủ thần sát” gồm 12 lá, từ Tý đến Hợi. Khi xây dựng nhà phạm phải thổ thần, hung thần, dùng ván gỗ cây đào để vẽ phù, đặt ngay chỗ phạm.

- Phù “Tứ phương thổ cấm tính thoái phương thần”, gồm 4 loại :1- Hợi – Tý – Sửu (Bắc, Đông Bắc), 2- Tị – Ngọ – Mùi (Nam, Tây Nam), 3- Thân – Dậu – Tuất (Tây, Tây bắc) và 4- Dần – Mão – Thìn (Đông, Đông Nam), có nghĩa dán ở phương nào thì quỷ thần phương đó phải lánh, vì đã do Thần Đất ngự trị, cai quản. Khi phạm “tam sát hung thần” dùng ván đào viết chữ son đặt vào nơi phạm (hình 1).

- Ngoài ra còn có các loại phù trấn khác như “Trấn hành niên kiến trạch thần” (tức yểm năm xây dựng xấu), trấn tám vị trí quái hào phản nghịch, trấn thân phòng tương khắc (vợ chồng thường hay xích mích), thôn phù Thượng lương v.v…

Các loại phù trấn trạch, ngày trước được vẽ trên ván đào mực chu sa, có kích thước nhất định, như rộng một thước hai (thước Tàu) hợp cho loại “Trấn trạch thập nhị thổ phù thần sát”, cao một thước hai phạm ác thần nào khớp với 12 Địa Chi hay 24 phương hướng.

Trên ván các thầy tướng địa có khi thêm chữ Thiện hoặc Phúc, tùy theo ngôi nhà phạm phải ác thần nào. Khi vẽ xong thần phù, phải chọn giờ mà treo. Đa số cho rằng ngày 8 tháng 4 âm lịch, giờ Thìn, là tốt cho các loại thần phù, treo ngay cửa ra vào.

Còn phù “Thượng lương” (hình 2) trước đây gọi là thôn phù, treo vào giờ Dần, ngày Dần, trong tháng; treo ngay giữa cây đòn giông (cây đà ngang, ngay giữa nóc nhà), loại này các thầy tướng địa ít sử dụng, chỉ bên các tu sĩ, các thầy cúng, các thợ xây dựng sử dụng, vì cho rằng phù Thượng Lương thuộc bùa tổng hợp, trừ được các ách tật, nạn tai trong nhà, từ quẻ tiên thiên hoặc hậu thiên bát quái mà hình thành. Phù được viết mực son trên giấy lụa hay vải màu vàng, ngày nay nhà được xây dựng bằng bê tông, nên phù Thượng lương bát quái được vẽ trên gương treo đặt trước cửa chính ra vào.

Nói về gương phù, ngoài phù Thượng lương, còn có gương Bạch hổ dùng để trấn yểm khi nhà ở ngã ba, nhà đối diện có cây đà chỉa vào tâm nhà, hay ở trước miểu, chùa, những nơi thờ tự v.v…

Hiện nay nhiều căn nhà có xu thế thay vì dán phù chú trước cửa nhà mang đầy tính mê tín dị đoan, người ta dựng bằng hai con chó đá, hay long, lân, quy, kình ngư trên nóc nhìn về trước, bên trong có yểm bùa. Công dụng như những lá phù chú nói trên, lại có thẩm mỹ.

2/ Hình Thức Bùa Chú : Thật ra các loại phù chú dùng trừ khử tà ma, sửa chữa nhà không hợp hướng, hoặc trừ những giấc mộng dữ, không có gì là huyền bí, nếu mọi người biết nguyên tắc mà các pháp sư, các nhà tướng địa khi vẽ trên lá bùa.

Như đã nói, đầu tiên phù được làm bằng gỗ đào rồi được vẽ hình hai vị Thần Đồ và Úc Lũy, theo tích truyện cây đào trên núi Đào Đô, cùng mấy câu “thần chú” thích hợp cho từng hoàn cảnh (chữ Hán) rồi được mô tả là “câu quyết trừ tà” có từ pháp thuật do các vị thần linh truyền lại.

Về sau để phù chú mang tính huyền bí, mọi người không thể hiểu trên đó viết những gì mà có pháp lực phi phàm, các pháp sư đã thay đổi hình vẽ hai vị thần bằng biểu tượng hoặc bằng hình Bát Quái tiên thiên hay hậu thiên, và các câu “thần chú” thay vì viết bằng chữ Hán nay viết qua chữ Phạn, theo lối chữ thảo, kéo dài ngoằng ngèo như rồng bay rắn lượn, đầy tính huyền hoặc như mật mã để không ai còn đọc được.

Đến nay các pháp sư, thầy cúng chỉ biết đến tên của lá bùa, khi hết lại sao y làm nhiều bản khác, đôi khi thành “tam sao thất bản”. Còn tâm lý người sử dụng khi thấy tờ phù chú càng huyền hoặc lại càng sùng bái, tin tưởng hơn.

 Hơn nữa khi các tờ phù chú, có khi được vẽ lộng kính, hay trên những tấm thép lá mỏng, tới tay mọi người, các pháp sư còn cúng khai khuông trừ tà, và chờ ngày lành tháng tốt đem “khai quang điểm nhãn” mới được cho là thần linh đã nhập giữ được cửa nhà.

 Để giải ác mộng, tai ương hay bùa ngải, các tờ phù chú được gấp nhỏ, để vào những nơi như bóp (ví), dưới gối, còn trẻ em thì cho vào một bao vải nhỏ có dây ngũ sắc để đeo vào cổ trước khi đi ngủ. Các chùa chiền thường cho tín đồ hay khách hành hương những lá bùa “Trì chú” (hình 3) để trấn áp các chuyện trên.

Người Nhật cũng hay dùng bùa chú khi gặp những điều xui rủi, để được “chuyện dữ hóa lành”. Khi giải trừ, họ thường niệm thần chú những câu sau đây :

- “Hách hách dương dương, nhật xuất Đông Phương, đoạn tuyệt ác mộng, tịch trừ bất tường”

Sau đó nhìn hướng đông (mặt trời mọc), chủ ý nhìn vào hướng có dương khí, thở hít vào. Khi thở ra nhìn về hướng bắc. Làm đi làm lại nam bảy lần, nữ chín lần, hít thở dương khí như thế để trừ vận rủi.

Người Nhật cho rằng “câu thần chú” này do Quản Lộ đời Tam quốc (vào năm 224 – 246) viết ra từ bí pháp do Hoàng Đế để lại.

1 nhận xét:

  1. Great work! This is the type of information that are meant to be shared around the internet. Disgrace on Google for now not positioning this post upper! Come on over and visit my web site . Thank you =)

    Trả lờiXóa