This is my blog: vuvanson.tk

Go to Blogger Vi-et Spaces.

This is my blog: sonblog.tk

Go to Blogger Vi-et Spaces.

This is my blog: vi-et.tk

Go to Blogger Vi-et Spaces.

This is my facebook: https://www.facebook.com/vusonbk

Go to Facebook Blogger Vi-et Spaces.

This is my facebook page: https://www.facebook.com/ViEtSpaces

Go to Facebook Page Blogger Vi-et Spaces.

Thứ Ba, 31 tháng 5, 2011

Tìm hiểu về giao thức ICMP và ICMP message:

Thuật ngữ ICMP được viết tắt bởi Internetwork Control Message Protocol là một giao thức hoạt động trên layer 2 - Internetwork trong mô hình TCP/IP hoặc layer 3 - Network trong mô hình OSI cho phép kiểm tra và xác định lỗi của Layer 3 Internetwork trong mô hình TCP/IP bằng cách định nghĩa ra các loại thông điệp có thể sử dụng để xác định xem mạng hiện tại có thể truyền được gói tin hay không
Trong thực tế, ICMP cần các thành phần của mọi gói tin IP để có thể hoạt động được.
- Thỉnh thoảng một gateway hoặc một máy đích sẽ liên lạc với máy nguồn để đưa ra những thông điệp lỗi về tiến trình xử lý các gói tin. Đó là mục đích chính của giao thức này. ICMP sử dụng với một mục đích đơn giản là hỗ trợ cho sự hoạt động của giao thức IP.
- Trong khi truyền các gói tin Ping, cũng được biết đến như các gói tin ICMP echo requests, và ICMP echo replies. ICMP bao gồm rất nhiều các loại thông điệp khác nhau cho những mục đích đa dạng khác nhau. Bảng 1.1 sẽ là danh sách các loại thông điệp quan trọng và thường sử dụng:


hình 1.1: ICMP Message Type.

 

- Mỗi thông điệp của ICMP có chứa một trường Type và một trường Code. Trường Type là trường biểu diễn các loại thông điệp - xem trong bảng 1.1, còn trường Code chứa các thông điệp con (subtype). Cho ví dụ, có nhiều người cho rằng có hai loại thông điệp được đưa ra khi sử dụng câu lệnh Ping như: ICMP Echo Request và ICMP echo Reply, nhưng thực tế, hai loại thông điệp đó thuộc cùng một loại thông điệp là Echo và khác Code (Request và Reply). Các bạn có thể được giới thiệu chi tiết hơn về các loại thông điệp của ICMP như sau:

1. ICMP Unreachable
- Khi một thiết bị thực hiện việc truyền một gói tin đến máy đích nhưng không thực hiện được thì thiết bị đó sẽ gửi lại một thông điệp là ICMP Unreachable. Để trợ giúp cho việc xác định nguyên nhân chính của việc gói tin đó không thể gửi được, thì thông điệp ICMP Unreachable sẽ bao gồm một trọng năm giá trị Code để biểu diễn nguyên nhân việc truyền dữ liệu không thành công. Cho ví dụ: hình 1.2 máy VNE_1 đang cố gắng kết nối đến Web server, Web server này được gọi là Web. Bảng 1.3 sẽ đưa ra danh sách những loại Code của thông điệp ICMP Unreachable

hình 1.2: Sample Network for ICMP Unreachable Examples

 

Bảng 1.3: ICMP Unreachable Codes

 

- Ví dụ: hình 1.4 ICMP debug trên Router B, Khi đang chạy câu lệnh Trace trên Router A.
3. ICMP Redirect

Thông điệp ICMP Redirect cho phép một router gateway nói cho một máy nào đó biết về một router tốt hơn có thể được sử dụng trong quá trình truyền dữ liệu đến một máy đích nào đó. Để có thể thực hiện được điều đó, một ICMP Redirect sẽ được gửi từ router gateway đến máy đó và nói cho máy đó biết về địa chỉ IP về router tốt hơn kia. Cho ví dụ, hình 1.5 một PC dùng địa chỉ IP của rRouter B như là default gateway của nó, nhưng Router A có một đường đi đến mạng 10.1.4.0/24 có chi phí tốt hơn của Router B. Khi đó Router B sẽ đưa ra một thông điệp ICMP Redirect cho PC đó theo các bước như sau:
- PC gửi một gói tin, máy đích thuộc mạng 10.1.4.0/24, qua Router B (Vì router B là default gatewary của PC này)
- Router B sẽ chuyển gói tin đó dựa vào bảng định tuyến của chính nó.
- Router B gửi một thông điệp ICMP Redirect đến PC đó, và nói cho PC đó biết rằng lần sau khi gửi dữ liệu đến mạng 10.1.4.0/24 thì gửi qua Router A (vì trong bảng định tuyến của RouterA cũng chứa đường đi tới mạng 10.1.4.0/24 và đường đi này có chi phí tốt hơn của Router B).
- Những gói tin tiếp theo được gửi từ PC đó đến mạng 10.1.4.0/24 sẽ được gửi trực tiếp qua Router A


hình 1.5: Ví dụ về một ICMP Redirect

Với những kiến thức về các loại thông điệp của ICMP sẽ giúp các bạn có thể kiểm tra và sửa lỗi hệ thống mạng được tốt hơn.
  



Giao thức ICMP (Internetwork Control Message Protocol) cho phép việc thử nghiệm và khắc phục các sự cố của giao thức TCP/IP. ICMP định nghĩa các các thông điệp được dùng để xác định khi nào một hệ thống mạng có thể phân phối các gói tin. Thật ra, ICMP là một thành phần bắt buộc của mọi hiện thực IP.

Trong một vài trường hợp, một gateway hoặc một máy đích sẽ cần giao tiếp với máy nguôn để báo cáo lại các lỗi xảy ra trong quá trình xử lý gói tin. Trong trường hợp đó, ICMP sẽ được dùng. ICMP sử dụng IP như thể nó (ICMP) nằm ở một mức cao hơn.

ARP không phải là một giao thức lớp network. Nó là một ứng dụng được viết trực tiếp trên lớp Datalink. Có một cách thức khác để chia các loại thông điệp này là control plane, management plane và data plane.

Đôi khi gói tin ping còn được gọi là ICMP echo request và ICMP echo replies, nhưng thật ra, ICMP bao gồm nhiều loại thông điệp khác nhau.

Ping thường được dùng để kiểm tra kết nối giữa các thiết bị. Đây là một giao thức rất phổ biến để kiểm tra sự tồn tại của một máy. Ping cũng có thể được dùng để khắc phục những vấn đề phức tạp hơn trong mạng. Phần lớn các hiện thực của lệnh ping cho phép bạn thay đổi kích thước của gói tin. Bảng dưới đây mô tả một vài thống kê về kích thước gói tin ping trong Cisco IOS và các thiết bị switch Catalyst.
























bảng: Kích thước gói tin ping
DeviceMinimum Packet SizeMaximum Packet SizeDefault Packet Size
Cisco IOS36 bytes18024 bytes100 bytes
Cisco Catalyst56 bytes472 bytes64 bytes

Phần lớn các hiện thực của lệnh ping trên các máy gửi từng gói tin mỗi giây. Cisco IOS cho phép bạn gửi các gói tin nhanh hay chậm tùy thuộc vào khả năng của CPU và các thiết bị mạng có thể truyền nó như thế nào.

Có vài vấn đề bạn cần phải nhận biết khi dùng lệnh ping. Ping được tạo ra và được trả lời bởi CPU của các thiết bị Cisco. Mặc dù lệnh ping không có chiếm nhiều thời gian CPU, bạn phải cẩn thận khi dùng các thiết bị có tải lớn để trả lời hoặc tạo ra lệnh ping. Trên các thiết bị Cisco, tác vụ ping được gán độ ưu tiên rất thấp. Vì vậy, có thể một thiết bị đang bận rộn không thể trả lời lệnh ping. Nếu một thiết bị mà bạn đang ping không có trong bảng ARP, gói tin ping đầu tiên thường bị time-out. Do đó, phần lớn các ứng dụng mạng dùng ping sẽ gửi ra vài gói tin ping trước khi thực sự thông báo là bị mất kết nối. Cũng tương tự, bạn phải rất cẩn thận khi dùng lệnh ping để xác định độ trễ hay thông lượng của một hệ thống mạng bởi vì bạn đang đo lường ICMP performance của các đầu cuối chứ không phải đo hiệu năng thực sự của hệ thống mạng.

Bảng dưới đây liệt kê các loại thông điệp ICMP quan trọng nhất:



































Loại thông điệp ICMPMục đích
Destination UnreachableThông báo cho máy nguồn là có một vấn đề trong phân phối gói tin
Time ExceedThời gian để chuyển một gói tin là quá lớn. Gói tin bị loại bỏ.
Source QuenchMáy nguồn đang gửi dữ liệu ở mức nhanh hơn mà máy đích có thể xử lý. Thông điệp này yêu cầu máy gửi gửi chậm lại.
RedirectĐược dùng bởi một router thông báo cho một host dùng một địa chỉ router khác tốt hơn cho những lần gửi khác sắp tới.
EchoĐược dùng bởi lệnh ping để kiểm tra kết nối.
Address/mask request/replyĐược dùng để học và để truy vấn địa chỉ IP/ mask được dùng.
Router Advertisement and SelectionĐược dùng để cho phép các host học địa chỉ IP của các router gắn vào subnet.

Mỗi thông điệp ICMP chứa một trường Type và trường Code. Trường type để chỉ ra loại thông điệp trong bảng trên. Trường code ngầm định một loại kiểu con. Ví dụ, nhiều người hay mô tả lệnh ping như là ICMP Echo request và ICMP Echo reply nhưng trong thực tế, hai loại thông điệp trên có cùng kiểu Echo nhưng khác Code (request và reply).

Sửa lỗi Bootmgr is missing - press ctrl-alt-del to restart?

Đôi khi ghost lại, hay vì lý do gì đó mà máy báo lỗi bootmgr is missing, trường hợp này xảy ra với Win7 và Vista
bootmgr-1Đây là một trong những lỗi hay gặp nhất khi sử dụng Windows. Bạn đã bao giờ gặp phải tình trạng này? Mình chắc là có chứ? Rất nhiều người khi gặp tình trạng này thường cài lại Win ngay lập tức. Nhưng thực tế là không cần, bởi lỗi này chỉ do lỗi mấy file boot hệ thống, bạn chỉ cần sửa lại chúng là được. Để làm được điều này, bạn sẽ cần một chiếc đĩa (Hoặc USB) cài Win nhé

Thứ Hai, 30 tháng 5, 2011

"Sống chậm lại" để... lắng nghe!


Chậm lại để không hời hợt, chậm lại để nuôi chín cảm xúc, để lắng nghe nhịp chảy của cuộc sống, nhịp chảy của chính con tim mình, để nhận ra điều gì thực sự là cốt lõi, điều gì chỉ là thoáng qua… Chậm lại để nhìn lại. Chậm lại để… nhanh hơn. 

Giữa guồng quay vô tận của thời gian, áp lực của cuộc sống, của công việc, người ta bắt đầu thấy chóng mặt, ngột ngạt… Học thiền, tập Yoga, tĩnh tâm bằng trà đạo… là những giải pháp “sống chậm” của nhiều người thời nay. 

Thuở trước thi sĩ Xuân Diệu đã từng “giục giã”: “Nhanh lên chứ, vội vàng lên với chứ”. Ngày nay, nhiều người cho rằng phải “sống gấp”, “sống lướt”… Giữa lúc đó, “sống chậm” dường như kéo ta bước chậm lại, đưa con người trở về với bề sâu, bề xa, những góc khuất trong tâm hồn, chầm chậm lắng nghe và suy ngẫm. 
Thử một lần thực sự thâm nhập vào thế giới riêng của tuổi teen, chắc hẳn ấn tượng về một thế hệ @ với nhịp sống hối hả và hưởng thụ đã “mặc định” trong mỗi người sẽ nhanh chóng qua đi. Nhiều người sẽ gặp một chút “tôi” trong những dòng tâm sự hồn nhiên, chân thành, thậm chí là những suy nghĩ, tản mạn đôi lúc bâng quơ của lứa tuổi ô mai… 

Đó là những giây phút chúng ta “sống chậm lại”… Sống chậm! Chậm lại để không hời hợt, chậm lại để nuôi chín cảm xúc, để lắng nghe nhịp chảy của cuộc sống, nhịp chảy của chính con tim mình, để nhận ra điều gì thực sự là cốt lõi, điều gì chỉ là thoáng qua… Chậm lại không phải là để thụ động tận hưởng. Chậm lại để nhìn lại. Chậm lại để… nhanh hơn. 

…Bồi hồi khi nhớ đến đôi dòng tâm sự trong tản văn của Nguyễn Thanh Bình: “…tôi sẽ tập ăn chậm để thấy vị ngọt của hạt gạo quê xứ nghèo, tập đi chậm để thấy hai hàng cây bên đường thay lá, tập sống chậm lại, chậm lại để nhận thấy tình đời tình người lấp lóe bên tôi…” 

Giản dị nhưng sâu sắc, chân thành nhưng thấm đẫm yêu thương, đôi khi xen cả những “triết lí” hồn nhiên của tuổi mới lớn… 
Hãy lắng nghe và cảm nhận khung nhạc cuộc sống... 

 

Tổng hợp cách ẩn HDD trong Windows(Ko dùng tool)

1/Command
Ẩn HDD để tránh mọi người truy cập tài liệu mật của mình.
việc ẩn = lệnh ko gây bất cứ ảnh hưởng gì tới dữ liệu bên trong.(vì thế cứ yên tâm vọc).
Đầu tiên các bạn vào Start\Run gõ lệnh diskpart












hiện bản chứng thực thì yes không thì đợi xíu cho hiện dòng DISKPART>











gõ lệnh select để nó hiện lên danh sách(bước này có thể bỏ qua)











gõ lệnh list volumeđể xem những volume có trong máy mình.











gõ lệnh select volume 1 để xác định volume cần ẩn.










gõ lệnh remove letter e để ẩn volume 1 vì volume 1 là ổ E trong bản lsit phía trên.

 











muốn hiện lại thì gõ lệnh assign letter e











(chú ý trước khi sử dụng lệnh remove hay assign này phải dùng lệnh select volume để xác nhận volume trước thì lệnh mới có tác dụng)

2/Sử dụng Disk managment(diskmgmt.msc)

Right click Mycomputer chọn Manage -> Disk managment
Tại cửa sổ giao diện bạn chọn ổ đĩa muốn ẩn bấm right click Change Drive letters and Paths sau đó bấm Remove ok thoát ra vào Mycomputer kiểm tra.
ngay bước Remove thay vì bấm remove bạn bấm change để thay đổi kí tự ổ đĩa tùy thích

Chúc các bạn vui

Tong hop tai lieu PIC va cac cong cu can thiet

Tài liệu cần cho cái BTL :
http://www.mediafire.com/?rhymjzmx4oo
http://www.mediafire.com/?it1wzqi2l0v
C for PIC :
http://www.mediafire.com/?yjywdzvyzzm
Drive CCS for PIC :
http://www.mediafire.com/?sharekey=19c7db26153d08fb9bf8d6369220dcab3cea0c5e3ff643debf1b77d2eb488dac
Phần mềm nạp cho PIC
http://www.mediafire.com/?wt0zomjgh2y
http://www.mediafire.com/?zjy0d0zmtwe
Đồ án Pic 18F4550 và các ứng dụng :
link1: www.mediafire.com/?0imnnwto3l2
link2: www.4shared.com/file/210419622/35f5d338/DA_Pic_18F4550_va_cac_ung_dung.html
Lập trình và thiết kế máy nghe nhạc MP3 sử dụng Vi điều khiển PIC: 
link1: www.mediafire.com/?04tjmmj4wey
link2: www.4shared.com/file/185893298/6d2828a6/MP3.html
Kỹ thuật Bảng trong lập trình LCD cho PIC :
link1: www.mediafire.com/?he3ny1z5tno
link2: www.4shared.com/file/185896729/c8cef322/Ky_thuat_bang.html
Kết nối PIC với EFROM sử dụng I2C :
link1:www.mediafire.com/?hkqb5mzzygd
link2:www.4shared.com/file/185897420/be892ba/Ket_noi_voi_EEPROM.html
Hướng dẫn sử dụng mạch nạp GTP_USP cho PIC :
link1:www.4shared.com/file/185897420/be892ba/Ket_noi_voi_EEPROM.html
link2:www.4shared.com/file/185898344/7f3f7f6/Winpic800.html
Hướng dẫn sử dụng mạch nạp MNPIC1 :
link1: www.mediafire.com/?yjem0lzjjia
link2: www.4shared.com/file/185898434/4dfd77b4/huong_dan_MNPIC1.html
Tài liệu học nhanh Vi Điều khiển PIC :
link1: www.mediafire.com/?fenutngylmo
link2: www.4shared.com/file/185898535/3b382d15/Co_ban_ve_PIC.html
Học Vi điều Khiển PIC bằng hình ảnh :
link1: www.mediafire.com/?ydajgzdhtg2
link2: www.4shared.com/file/185902652/58b1f0d9/cac_buoc_hoc_PIC.html
CAN BUS for PIC :
link1: www.mediafire.com/?djkijtmtemm
link2: www.4shared.com/file/185903634/5f34950f/Giao_tiep_CAN.html 


Về môn VXL





Các phầm mềm cần thiết



MS visio 2003:
part 1 :http://www.mediafire.com/?so2tmmtfhqx
part 2 :http://www.mediafire.com/?mtgzftmj1e1
key WFDWY-XQXJF-RHRYG-BG7RQ-BBDHM

PIC16F877A:
Tài liệu nghiên cứu : http://www.mediafire.com/?jqujdzl5ulo
http://www.mediafire.com/?it1wzqi2l0v
Datasheet PIC16F877A :http://www.mediafire.com/?vmyiiz2eyty

Chương trình dịch file mã nguồn ASM: MPLAB :
http://ww1.microchip.com/downloads/en/DeviceDoc/MP731_Full.zip

VXL Văn Thế Minh:
http://www.mediafire.com/?vtf2wyddimy

ORCAD portable:
http://www.mediafire.com/?i9wi5gyedmm

Protues v7.5 SP3 và v7.6
http://www.mediafire.com/?lwt5ljmwmyl
http://rs494.rapidshare.com/files/314602121/Proteus_7.6.rar

8086emu
http://www.mediafire.com/?zyy2rtekzdy

Eagle Professional 5.7.0
http://www.mediafire.com/?ddimd12qztt

Visual Studio 2008 Express
http://download.microsoft.com/download/8/B/5/8B5804AD-4990-40D0-A6AA-CE894CBBB3DC/VS2008ExpressENUX1397868.iso


Datasheet IC



Chủ Nhật, 29 tháng 5, 2011

Sức mạnh, tình yêu và sự tự tin


Nếu ai đó hỏi Sức mạnh con ngươi nằm ở đâu??? Phải chăng nó nằm trong từng thớ cơ bắp thịt trong từng cử chỉ hành động??? Đúng rồi sức mạnh con người được thể hiện qua nó. nhưng sức mạnh với tôi đó là tinh thần, .... Dù rằng nhiều lúc tôi thật khoẻ khoẻ kinh khủng nhưng tinh thần mệt mỏi và tôi thấy mình uể oải ko muốn làm j k còn tha thiết làm j cả......

Nhưng dù rằng có những lúc cuộc sống như vắt kiệt sinh lực con người ta, tôi vẫn thây mình tràn trề sức sống, sức mạnh là nằm ở tư duy, khi ta nghĩ ta khoẻ mạnh để thực hiện những việc ta yêu thich thì ta sẽ ko mệt mỏi và thiếu " sức mạnh"....

Tôi có sức mạnh và vì vậy có thể chống lại những sự mệt mỏi và sống bằng 200% những cái tôi có thể làm bình thường....

ĐÓ LÀ SỨC MẠNH!!!!

Vậy tình yêu ở đâu????

Tình yêu bắt đầu từ tư duy, xuất phát từ khối óc và được thể hiện qua các cử chỉ và lời nói yêu thương..... Vậy tình yêu là ở đâu??? ở cử chỉ cơ bắp hay tư duy suy nghĩ????

Không với tôi tình yêu không bắt đầu từ tư duy nó cũng không bắt đầu từ cơ bắp nó đến ngoài sự kiểm soát của con nguời, nó đến từ " con tim và ánh mắt" những cái vô hình nó đến vô hình và đi cũng vô hình....

Tình yêu không do con người làm chủ nó tồn tại vĩnh hằng và không tồn tại,....

Tình yêu và sức mạnh, cộng dồn thêm 1 chút ước mơ, đồng hành cùng tình thân, thêm 1 chút " dám " đó là sự tự tin....

" Chỉ xin 1 chút tự tin, để có thể kiêu hãnh rằng mình có sức mạnh và tràn đầy yêu thương!!!"

Thứ Bảy, 28 tháng 5, 2011

Pronunciation power full

Chương trình được thiết kế để bạn luyện phát âm và Pronunciation power không chỉ dạy bạn phát âm các chữ cái mà còn dạy bạn phát âm từng từ một, từng câu một. Với giao diện đồ hoạ sinh động thể hiện vòm miệng khi phát âm các từ, câu mà bạn cứ theo đó quan sát mà học theo sao cho đúng (như: hàm trên bạn phải cử động thế nào, lưỡi bạn phải đưa làm sao…?).

Hướng dẫn sử dụng:

Để sử dụng phần mềm này, các bạn sử dụng ổ đĩa ảo hoặc có thể ghi ra đĩa CD và cài đặt như bình thường.

Chương trình được thiết kế để bạn luyện phát âm và Pronunciation power không chỉ dạy bạn phát âm các chữ cái mà còn dạy bạn phát âm từng từ một, từng câu một. Với giao diện đồ hoạ sinh động thể hiện vòm miệng khi phát âm các từ, câu mà bạn cứ theo đó quan sát mà học theo sao cho đúng (như: hàm trên bạn phải cử động thế nào, lưỡi bạn phải đưa làm sao…?). Giống như việc bạn học tiếng Việt vậy, ví dụ bạn học phất âm giữa hai vần “l” và “n” thì trong tiếng Anh bạn cũng phải làm thế.

Thứ Năm, 26 tháng 5, 2011

MEGAWAN -Sử dụng MPLS

Lời giới thiệu

Ngày nay, công nghệ thông tin và viễn thông đang hội tụ sâu sắc và cùng đóng góp rất tích cực trong sự phát triển kinh tế, xã hội toàn cầu. Không một doanh nghiệp, tổ chức thành đạt nào lại phủ nhận sự gắn bó giữa hệ thống thông tin và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như lộ trình phát triển của họ. Mỗi ngày, họ đầu tư nhiều hơn cho cả giá trị nội dung thông tin và hạ tầng mạng lưới thiết bị, dịch vụ. Hàng loạt các giải pháp mới ra đời mang lại những biến đổi lớn trong cấu trúc hạ tầng mạng riêng của các người dùng doanh nghiệp, tổ chức. Cấu trúc phổ biến hiện nay không còn xuất hiện ở dạng nội bộ LAN mà đã chuyển sang mô hình diện rộng WAN (Wide Area Network).Với WAN, các doanh nghiệp, tổ chức dần mở cánh cửa văn phòng mình vươn rộng khắp cả nước và ra ngoài biên giới, và kết nối thường trực với tất cả chi nhánh, khách hàng, nhà cung cấp, nhà phân phối đại lý.


Trong bài báo này, chúng tôi xin được giới thiệu một công nghệ mới MPLS đã xuất hiện tại Việt Nam và hứa hẹn những năng lực hỗ trợ rất lớn của WAN cho các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp, tổ chức được đề cập ở đây có thể là bất kỳ một tổ chức nào: tập đoàn kinh tế, cơ quan chính phủ, hay hệ thống giáo dục. Và để giới thiệu tới đối tượng này như là những người sử dụng, chúng tôi xin phép không đi quá sâu vào các chi tiết kỹ thuật công nghệ mà sẽ tập trung nhấn mạnh đến khả năng đáp ứng và ứng dụng như một phương tiện đắc lực cho mọi hoạt động kinh doanh. Bài báo được giới thiệu theo các vấn đề đặt ra như sau: đặc điểm các hạ tầng mạng riêng tại Việt Nam hiện nay như thế nào? MPLS là gì? MPLS mang lại lợi ích gì cho doanh nghiệp? MPLS tại Việt Nam như thế nào? Chúng tôi hy vọng bài viết mang lại nhiều thông tin bổ ích cho các doanh nghiệp, tổ chức Việt Nam và các bạn độc giả quan tâm khác.


Các yêu cầu đặt ra khi thiết kế mạng WAN

Chủ yếu có 4 yêu cầu chính như sau:

 

  1. Mạng WAN phải mềm dẻo, có khả năng đáp ứng được những thay đổi trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp: Mạng WAN cần được thiết kế mềm dẻo, có khả năng thay đổi theo những thay đổi trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như mở thêm văn phòng, thay đổi nhà cung cấp nguyên liệu, thay đổi nhà phân phối, kênh bán hàng, v.v..., khi đó cấu trúc mạng và số nút mạng cũng cần được thay đổi theo.

  2. Khả năng khôi phục nhanh khi có sự cố, Khả năng này đặt ra yêu cầu gia tăng khả năng định tuyến lại lưu lượng thật nhanh chóng khi một điểm trung gian trên mạng hoặc 1 đường truyền dẫn bị đứt. Thông thường yêu cầu về thừoi gian khôi lục liên lạc trong khoảng 50 ms hay nhỏ hơn nếu như phục cho các lưu lượng thoại. Ngoài ra mạng WAN phải có khả năng mở rộng (các hệ số như tốc độ tối đa của kết nối WAN hay số lượng tối đa của các kênh ảo mà mạng đó hỗ trợ).

  3. Hội tụ hạ tầng mạng lưới (Convergence of Network Infrastructure): hợp nhất rất nhiều loại công nghệ (như ATM, Frame Relay), các giao thức (như IP, IPX, SNA) và các kiểu lưu lượng (như data, voice, và video) vào cùng một hạ tầng mạng duy nhất khi ấy chi phí hỗ trợ hạ tầng mạng sẽ giảm đáng kể so với hỗ trợ nhiều mạng lưới như trước.

  4. Cách ly lưu lượng (Traffic Isolation) nhằm hai mục đích: tăng tính bảo mật (chỉ truy cập được vào luồng lưu lượng của mình) và tính ổn định (các hoạt động của một thực thể chỉ ảnh hưởng đến thực thể đó) .


 

Một phương thức tiếp cận đáp ứng được các yêu cầu trên được biết đến hiện nay là công nghệ chuyển mạch nhãn MPLS. Các nhà cung cấp dịch vụ đang triển khai MPLS trên khắp mạng đường trục với sự quan tâm đặc biệt bởi khả năng vượt trội trong cung cấp dịch vụ chất lượng cao qua mạng IP, bởi tính đơn giản, hiệu quả và quan trọng nhất là khả năng triển khai VPN.

 

Cơ bản về MPLS

MPLS là thuật ngữ viết tắt cho Multi-Protocol Label Switching (chuyển mạch nhãn đa giao thức). Nguyên tắc cơ bản của MPLS là thay đổi các thiết bị lớp 2 trong mạng như các thiết bị chuyển mạch ATM thành các LSR (label-switching router-Bộ định tuyến chuyển mạch nhãn). LSR có thể được xem như một sự kết hợp giữa hệ thống chuyển mạch ATM với các bộ định tuyến truyền thống.

Trên đường truyền dữ liệu, LSR đầu được gọi là Ingress LSR; LSR cuối cùng được gọi là Egress LSR; còn lại các LSR trung gian gọi là các Core LSR. Trong một mạng MPLS mỗi gói dữ liệu sẽ chứa một nhãn (label) dài 20 bit nằm trong tiêu đề MPLS (MPLS header) dài 32 bit. Đầu tiên, một nhãn sẽ được gán tại Ingress LSR để sau đó sẽ được chuyểntiếp qua mạng theo thông tin của bảng định tuyến. Khối chức năng điều khiển của mạng sẽ tạo ra và duy trì các bảng định tuyến này và đồng thời cũng có sự trao đổi về thông tin định tuyến với các nút (node) mạng khác.


 

 

 

 

 

*: LDP (Giao thức phân phối nhãn); OSPF (giao thức định tuyến truyền thống).

Việc chia tách riêng hai khối chức năng độc lập nhau là: chuyển tiếp và điều khiển là một trong các thuộc tính quan trọng của MPLS. Khối chức năng điều khiển sử dụng một giao thức định tuyến truyền thống (ví dụ: OSPF) để tạo ra và duy trì một bảng chuyến tiếp. Khi gói dữ liệu đến một LSR, chức năng chuyển tiếp sẽ sử dụng thông tin ghi trong tiêu đề để tìm kiếm bảng chuyển tiếp phù hợp và LSR đó sẽ gán một nhãn vào gói tin và chuyển nó đi theo tuyến LSP (label-switched path: tuyến chuyển mạch nhãn). Tất cả các gói có nhãn giống nhau sẽ đi theo cùng tuyến LSP từ điểm đầu đến điểm cuối. Đây là điểm khác với các giao thức định tuyến truyền thống (có thể có nhiều tuyến đường nối giữa hai điểm)

Các Core LSR sẽ bỏ qua phần tiêu đề lớp mạng của gói, khối chức năng chuyển tiếp của những LSR này sử dụng số cổng vào (input port number) và nhãn để thực hiện việc tìm kiếm bảng chuyển tiếp phù hợp rồi sau đó thay thế nhãn mới và chuyển ra ngoài vào tuyến LSP.

Như vậy, Công nghệ MPLS là một dạng phiên bản của công nghệ IPoA (IP over ATM) truyền thống, nên MPLS có cả ưu điểm của ATM (tốc độ cao, QoS và điều khiển luồng) và của IP (độ mềm dẻo và khả năng mở rộng). Giải quyết được nhiều vấn đề của mạng hiện tại và hỗ trợ được nhiều chức năng mới, MPLS được cho là công nghệ mạng trục IP lý tưởng.

MPLS dùng trong VPN: Cấu hình một mạng riêng ảo dựa trên MPLS có thể triển khai trên lớp 3 hoặc lớp 2 như sau:

VPN/ MPLS lớp 3

Thường được xây dựng dựa trên tiêu chuẩn IETF RFC 2547bis. Lớp này của VPN chuyển tải lưu lượng qua mạngthông qua sử dụng đường hầm MPLS và giao thức báo hiệu MP-BGP (Multiprotocol Border Gateway Protocol) như minh họa trong hình vẽ 2

H2

Trong đó, BB là định tuyến đường trục có thực hiện MPLS và có VRF thực hiện định tuyến trong VPN, còn BO là định tuyến tại điểm nhánh không chạy MPLS. Đây là các thức phổ biến nhất hiện nay, tuy nhiên các doanh nghiệp có thể ứngdụng MPLS trên các điểm nhánh để tăng thêm hiệu quả. Hai ưu điểm của loại VPN/ MPLS lớp 3 này là dựa trên các chuẩn truyền thống và dễ cung cấp.

VPN/ MPLS lớp 2

Các dạng dựa trên Frame Relay và ATM là phổ biến và tự nó đã là đa giao thức nên các VPN/ MPLS lớp 2 như là một bước chuyển tiếp dễ dàng cho các doanh nghiệp, tổ chức hiện nay đang chạy các giao thức truyền thống nhưng có ý địnhchuyển sang mạng toàn IP trong thời gian tới. Một trong số các đặc điểm quan trọng của một VPN/ MPLS lớp 2 là khả năng tạo ra một đường hầm như là một tuyến LSP (minh họa theo hình 3). Đặc điểm khác nữa là khả năng sử dụng các giao thức điều khiển như giao thức phân phối nhãn LDP hay BGP để thiết lập các kênh ảo.

 

 

 

 

 

Lợi ích của MPLS với doanh nghiệp, tổ chức

Với mạng sử dụng MPLS có rất nhiều các dịch vụ được cung cấp với chất lượng cao như:

1. Tải tin cho các mạng số liệu, Internet và thoại quốc gia. Lưu lượng thoại được chuyển dần sang mạng trục MPLS quốc gia. Mạng này sẽ thay thế dần mạng trục TDM quốc gia đang hoạt động.

2. Cung cấp dịch vụ truy nhập Internet tốc độ cao tại một số địa phương trọng điểm trên toàn quốc. Bước đầu hình thành mạng trục quốc gia trên cơ sở công nghệ gói.

3. Cung cấp dịch vụ truyền số liệu tốc độ cao cho các doanh nghiệp, tổ chức như Ngân hàng, các hãng thông tấn báo chí.

4. Cung cấp dịch vụ mạng riêng ảo VPN cho các công ty xuyên quốc gia và các doanh nghiệp, tổ chức lớn. Đây đang được coi như dịch vụ quan trọng nhất tác động đến việc thay đổi cơ cấu kinh doanh và tăng khả năng cạnh tranh của các nhà khai thác.

5. Cung cấp dịch vụ Video.

Đối với các doanh nghiệp, tổ chức, loại hình mạng riêng ảo trên mạng diện rộng đang là nhu cầu bức thiết nhất và thể hiện lợi ích rõ ràng với hoạt động của các đối tượng này. Để một công ty đạt được các mục tiêu kinh doanh, hạ tầng mạngriêng phải được tỏa rộng theo mọi hướng. Mạng MPLS có khả năng hỗ trợ hàng nghìn mạng riêng ảo chỉ trên một hạ tầng vật lý duy nhất nhờ đặc điểm phân chia nhiệm vụ đã giảm bớt yêu cầu kết nối ngang hàng hoàn toàn đầu- cuốiqua mạng. Xét về khả năng hỗ trợ VPN, các hạ tầng mạng riêng ảo truyền thống dựa trên các công nghệ cũ như leased line, X25, ATM không thể đáp ứng được thực trạng đa dạng về yêu cầu, đa dạng về chất lượng dịch vụ của hàng loạt các đối tượng khách hàng như hiện nay. Đây sẽ là lý do khiến các nhà cung cấp dịch vụ này phải chuyển hướng sang một mô hình cung cấp khác hiệu quả hơn.

Sự đa dạng của cả yêu cầu và chất lượng có thể minh họa theo 3 nhóm đối tượng có những yêu cầu rất khác nhau như sau:


 

 

 

 

 

Do đó, giải pháp đưa ra là phải xây dựng một mạng mềm dẻo và đa dịch vụ. Mạng này phải tích hợp được các dịch vụcủa intranet, extranet, Internet và hỗ trợ cho mô hình vpn đa dịch vụ. Sự xuất hiện của MPLS đã đưa ra được một giải pháp như thế và sẽ là sự lựa chọn ưu tiên của các nhà cung cấp.

Mô hình thực tế ứng dụng MPLS trong mạng riêng

Sau đây, chúng tôi xin đưa ra hai ví dụ triển khai mạng riêng ảo dựa trên MPLS. Trong ví dụ thứ nhất, một tổ chức tài chính vận hành một mạng riêng kết nối một số các đơn vị trực thuộc, tất cả những đơn vị này đều yêu cầu một kết nốiriêng về trung tâm nhưng thỉnh thoảng mới thực hiện kết nối. các đơn vị trực thuộc này lại có nhu cầu kết nối rất khác nhau, có đơn vị chỉ yêu cầu dịch vụ email được hiệu quả nhất trong khi những đơn vị khác lại cần truy cập rất lớn và có các ứng dụng tương tác cần thời gian thực như là các cuộc gọi VOIP. Giải pháp cho loại này là một mạng MPLS sửdụng công nghệ VPN/MPLS lớp 3 như trong hình 5.

 

 

 

 

 

Trong ví dụ thứ hai, một doanh nghiệp sở hữu và vận hành một mạng riêng để phục vụ cho các khối phòng ban hay văn phòng ở xa kết nối tới một số ứng dụng quan trọng. Doanh nghiệp này muốn nâng cấp sự hỗ trợ dần lên theo cách sau:

• Phân tách logic các lưu lượng phòng ban- Thông qua mô hình mạng nội bộ ảo VLANs chia tách lưu lượng này trên hạ tầng mạng LAN và họ muốn duy trì sự chia tách này trên mạng WAN với tính bảo mật cao.

• Triển khai VOIP tới tất cả các phòng ban chức năng và chi nhánh.

• Truy nhập vào các ứng dụng tương tác thời gian thực – trong trường hợp này, thường là dạng mô hình trung tâm phân phối cuộc gọi cần có các tham số về thời gian đáp ứng và hiệu năng cao.

Giải pháp đưa ra là triển khai mô hình MPLS theo công nghệ VPN/MPLS lớp 3 như hình vẽ 6 minh họa). Các lưu lượng thoại và dữ liệu trong mạng LAN ảo sẽ được dẫn tới các VRF tại các bộ định tuyến văn phòng chi nhánh và khi ấychuyển tải thông qua mạng WAN đến các vị trí ở xa khác. Để đáp ứng cho nhu cầu bảo mật, giải pháp này có thể sửdụng IPSec. Ngoài ra, định tuyến nội bộ có thể được cấu hình để mà nếu có một trong số các liên kết chính bị đứt, tất cả lưu lượng có thể được định tuyến lại trong 50 ms đến các tuyến thay thế khác để đảm bảo liên tục các phiên cho tất cả người dùng.

 

 

 

 

 

MPLS VPN tại Việt Nam

Tại Việt nam, MPLS hiện đang được xúc tiến xây dựng trong mạng truyền tải của Tổng công ty BCVT Việt nam (VNPT). Với dự án VoIP hiện đang triển khai, VNPT đã thiết lập mạng trục MPLS với 3 LSR lõi. Các LSR biên sẽ được tiếp tục đầu tư và mở rộng tại các địa điểm có nhu cầu lớn như Hải Phòng, Quảng Ninh ở phía Bắc, Đà Nẵng, Khánh Hoà... ở miền Trung, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu... ở miền Nam.

Hiện nay VNPT cung cấp dịch vụ MEGA-WAN với các loại hình dịch vụ VPN MPLS như sau.

- VNPT MPLS VPN lớp 2 với đặc trưng là kết nối point – point với lớp truyền giữa là ATM, Ethernet, FR. Triển khai là các dịch vụ ADSL, G.SHDSL kéo từ mạng của VNPT tới các CE và khách hàng tự quản lý việc định tuyến. Ưu điểm của VPN lớp 2 là: không yêu cầu bất cứ một sự thay đổi nào từ phía mạng hiện có của khách hàng; Mức độriêng tư phụ thuộc vào policy của khách hàng; Khách hàng tự quản lý việc định tuyến từ PCE – PCE; Các giao thức hỗ trợ cho cả Unicast và Multicast. Loại này phù hợp với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, có mô hình mạng không phức tạp. Ít khả năng mở rộng và chỉ là công nghệ lớp 2 (ATM, FR, Ethernet trong suốt trên MPLS).

 

 

 

 

 

 

 

 

- VNPT MPLS VPN lớp 3: Công nghệ truyền dẫn vẫn là ADSL và G.SHDSL qua các DSLAM. Topo mạng là Full-Mesh. Trong dịch vụ này VNPT sẽ quản lý việc định tuyến, còn người dùng chỉ việc phó mặc việc đó cho VNPT. VPN lớp 3 của VNPT sử dụng giao thức định tuyến tĩnh, RIPv2, OSPF, BGP. Dịch vụ này có chi phí khá thấp vì chỉ cần một thiết bị định tuyến và không cần trình độ quản lý cao, do nhà cung cấp dịch vụ đã quản lý hộ người dùng. Tuy nhiên dịch vụ này cũng có một số giới hạn đó là người dùng không có khả năng tự quản lý định tuyến được như dịch vụ Wan lớp 2. Các chính sách bảo mật như firewall hoặc mã hoá được đặt ở CPE chứ không phải ở PE, do đó người dùng phải có kiến thức về bảo mật.

 

 

 

 




- Các dịch vụ an ninh, bảo đảm cho VPN: Sử dụng IPsec cho việc đảm bảo an ninh trên MPLS. Bảo mật ở cả lớp 2 và lớp 3 trong mô hình OSI. Cam kết về chất lượng các ứng dụng và kết nối toàn cầu. Người dùng tuỳ biến cấu hình bảomật.







Kết luận

Như vậy, với mạng riêng dựa trên MPLS các doanh nghiệp, tổ chức hoàn toàn có thể đạt được các mục tiêu của mình như: điều khiển nhiều hơn trên hạ tầng mạng, có được dịch vụ hiệu năng và độ tin cậy tốt hơn, cung cấp đa lớp dịch vụ tới người sử dụng, mở rộng an toàn, đảm bảo hiệu năng đáp ứng theo yêu cầu của ứng dụng, hỗ trợ hội tụ đa công nghệ và đa kiểu lưu lượng trên cùng một mạng đơn. Tuy nhiên, các đơn vị này khi chọn lựa nhà cung cấp phần cứng cần phải cẩn thận và phải căn cứ trên nhiều góc độ và tiêu chí đánh giá khác nhau. Ví dụ có thể căn cứ các tài liệu đánh giá hiệu năng sản phẩm của các đơn vụ truyền thông, bức tranh phát triển của nhà cung cấp đó cả về chiều rộng và chiều sâu. Nhờ ưu điểm vượt trội của chất lượng dịch vụ qua mạng IP và là phương án triển khai VPN mới khắc phục được nhiều vấn đề mà các công nghệ ra đời trước nó chưa giải quyết được, MPLS thực sự là một lựa chọn hiệu quả trong triển khai hạ tầng thông tin doanh nghiệp.

 

Tài liệu tham khảo

1. BruceDavie and Yakov Rekhter "MPLS Technology and Applications" Morgan Kaufmann Pulishers, Inc. 2000.

2. Ivan Pepelnjak, Jim Guichard "MPLS and VPN Architectures" Cissco Press, 2001.

  1. Mạng riêng ảo - Nhà xuất Bưu điện

  2. Initial MPLS VPN Setup - Cisco Press

  3. www.hnpt.vnn.vn

  4. www.vtn.com.vn

  5. www.juniper.net



á...........cái nỳ mình lượm về đó nha!

Kưa gái thời @!

Hiiiiiiiiii...........Nào các bạn, hãy xem các chàng ta rỉ tai nhau "cách kưa gái thời @" nèy!!! Mình coppy vào đây cho các bạn xem lại nhé!

Cách thức tiến hành:


ChươngI:           Làm quen

 

Có nhìu cách để các chàng ta làm quen, hãy xem:

 

Cách 1:  Double Rich - ấn tượng khó phai.

Thời xưa, một số anh nghĩ ra trò này: mon mem lại gần, đạp 1 phát vào chân cô em, rồi ra vẻ nhỡ chân, xin lỗi. Nói thật trò này mèo, xưa như trái đất.

Đẳng cấp pro bây giờ phải thế này:

Từ xa tiến tới, túm tóc cô em, tát 2 tát, vít xuống, lên gối thêm 3 phát nữa, vừa oánh vừa chửi "con khốn nạn, mày tưởng mày hại ông mà ông không biết à". Sau đó "chợt nhận ra mình nhầm người", đổi thái độ quan tâm , ân cần "oh god, anh nhìn nhầm rồi, tội em quá, em có sao không?" đảm bảo sau khi trải nghiệm sức mạnh đầy nam tính, lại cảm nhận được sự ân cần ấm áp, nàng sẽ đổ như nhà cao tầng bị ăn cắp vật tư.

Cách 2:  Tình cờ:

Một số nhà văn lãng mạn thường nghĩ ra tình huống như sau: Nàng, đang bưng bê một thứ gì đó. Chàng, đang vội vã đi đâu đó. Huỵch, chàng và nàng va vào nhau, mọi thử đổ tứ tung xuống đất. Chàng rối rít xin lỗi, vừa giúp nàng nhặt đồ, vừa tán. Bull sh!t, đúng là bọn nhà văn dở hơi. Cách này không thích hợp với thời đại @ hiện nay.

Ở thế kỷ 21, anh em ta phải chơi trò khác. Đợi khi nào em gái ra về, bạn trực từ xa, vít ga con chiến mã (SH, Dylan thì càng tốt, không thì babetta cũng Ok) tông thẳng vào cô em. Đảm bảo cô em sẽ nằng lăn ra đất, nhìn bạn với đôi mắt khát khao. Bạn đã thành công, xin chúc mừng.

Cách 3:  Ân nhân cứu mạng

Một cô gái rất dễ rung động khi được một chàng trai cứu thoát khỏi nguy hiểm (VD như bị ngã xuống nước, bị hỏa hoạn, động đất ....)

Thế nhưng vấn đề là có phải lúc nào em gái cũng gặp tai ương để bạn ra tay nghĩa hiệp? Xin thưa là không. Vì vậy muốn thực hiện cách này, chính bạn phải là ngừoi tạo ra tai họa cho cô em, rồi sau đó cứu cô em thoát khỏi bàn tay tử thần.

Đơn giản nhất là cho em này ngã xuống nước.

Bạn chờ cơ hội khi em đang đi qua những đoạn sông hồ, nhẹ tay đẩy 1 phát cho em bay thẳng ra giữa sông. Tuy nhiên, thời nay con gái biết bơi khá nhiều, để chắc ăn, bạn phải nhảy xuống, dìm cho em này ngắc ngoải, gần chết rồi mới cứu. Nói chung bạn cứ dìm đến khi nào không thấy em này chống cự, yên tâm là mọi việc đã nằm trong tầm kiểm soát, khi đó cứ tằng tằng mà cứu.

Cách 4:  Badboy

Có một điều các bạn nên biết, một số cô gái thích những bad boy. Hẳn bạn sẽ không ngạc nhiên khi mấy chú bặm trợn, đầu gấu hay ngồi cuối lớp thường kặp kè với mấy em xinh như mộng. Cách thức này rất hợp với mấy anh ku hay gây gổ, có máu liều.

Tuy nhiên làm sao để thể hiện máu côn đồ của mình?

Quá đơn giản, bạn gọi hội đến tận nhà nàng, cho anh em đập phá tanh bành, sau đó bảo đám fellows giải tán, một mình mình đứng lại nhận trách nhiệm.
Nên nhớ càng bị ràng buộc, bạn càng có cơ hội tiếp xúc với em gái.

Ngoài ra, bạn có thể dùng một cách khác, đó là tưới xăng đốt cháy rụi căn hộ mà cô em này đang sống.

Dĩ nhiên không nơi nương tựa, bạn sẽ là chỗ dựa vững chắc cho cô bé. Đề phòng trường hợp một thằng ku khác nhảy vào ăn chặn, bạn phải có đàn em theo dõi 24/7, chú nào loe ngoe tiếp cận em gái, cho đàn em làm thịt luôn, đằng nào tay cũng nhúng tràm rồi.

Hờ hờ, chúc anh em thành công khi thực hiện các tuyệt chiêu này. Nếu anh em vẫn còn tự do, chưa bị tống vào tù hoặc bị đưa vào bệnh viện Nỡm sẽ giới thiệu cho anh em bước thứ 3: phát triển tình cảm.

ChươngII:  Phát triển tình cảm

OK, đến giai đoạn này, trong mắt nàng, bạn chắc chắn đã chiếm được một vị trí đặc biệt (vì những thủ đoạn mà bạn đã sử dụng để ra mắt người đẹp).

Nhưng nếu ngủ quên trên chiến thắng, không có những hành động kế tiếp, em gái xinh tươi của chúng ta có thể sẽ ra đi. hehe, vì vậy, gia đoạn này cần chú ý 2 vấn đề:

1. Chiếm được tình cảm của em gái
2. Show off cho mấy thằng lìu tìu khác cóng cơ.

Cách 1:  Mời đi chơi

Nghe quen thuộc phải không? Cách này là một trong những bài học vỡ lòng của nghề làm giai. Tuy nhiên cách thực hiện sao cho hiệu quả lại không hề đơn giản. THeo kinh nghiệm truyền lại của sư phụ Tôn Ngộ Không :"con gái là cái giống mình càng nuông chiều, nó càng chảnh, càng kiêu. Muốn nó quy phục, ta phải kiên nhẫn, đồng thời thể hiện được cái tâm của mình, hay nói gộp lại là nhẫn tâm". Bạn có nhiều phương án để mời ghệ của mình, nhưng phải luôn ghi nhớ 2 chữ "nhẫn tâm" mà Đường Tăng đại sư đã dạy.

- Gửi thư: thằng hâm mới dùng cách này để rủ người khác đi chơi. Lời nói trực tiếp bao giờ cũng có tác dụng hơn.

- Nhờ bạn bè: nói chung không nên, đi chơi 2 người có nhiều cơ hội hơn 1 nhóm 3,4 người.

- Gọi điện: (dùng giọng lè nhè cũng được) "Tôi nói cho cô biết, nếu trong 15 phút nữa, cô mà không đến (...) , tôi sẽ kéo đàn em đi san phẳng cái nhà cô đang ở".

- Nói trực tiếp: "Em ạ! Hôm trước có hiểu nhầm, anh định cho mấy thằng đệ xử lý 1 con mụ già, nhưng lại đưa nhầm ảnh của em. Chiều nay không khéo mấy thằng đệ của anh nó ra tay, tốt nhất em nên đi với anh cho an toàn."

Dụ được em ra khỏi nhà rồi, đưa em đi đâu là phụ thuộc vào sở thích của bạn. Nói chung, các em sẽ không dám trái lệnh của bạn. Bạn nên giữ gìn cho em nó một chút, đừng táy máy nhiều quá hỏng hết hàng họ.

Một số em khi ở bên các anh thường hay lôi cái tính làm nũng ra.

Thật ra đây không phải tính xấu, nhưng nếu lạm dụng nhiều quá sẽ khiến anh em ta khó chịu. Hơn nữa, đàn ông con trai phải đàng hoàng, ai lại đi làm thằng nô lệ. Nhất quyết không để mấy em lấn tới. Ngay khi các em có biểu hiện lấn sân, bạn phải ngay lập tức dập tắt cái suy nghĩ đen tối của em nó.

- Cách gián tiếp: khi em vừa có biểu hiện, bạn ngay lập tức ném cốc coffee xuống đất, chửi "MK, ông gọi coffee mà chúng bay dám cho cả đường vào à", đảm bảo em gái mất vía, ngồi im re.

- Cách trực tiếp: Hất thẳng cốc coffee vào người cô em và lạnh lùng: "nói lắm, ngứa tai".

Cách 2Giúp đỡ lúc hoạn nạn

Ai cũng biết việc ra tay giúp đỡ khi cô em đang gặp khó khăn sẽ có ảnh hưởng rất lớn về mặt tình cảm. Nhưng có 2 vấn đề nảy sinh:

1. Không phải lúc nào em gái cũng có khó khăn

2. Nếu có khó khăn, không phải lúc nào cũng nằm trong khả năng xử lý của mình

Vì vậy tốt nhất bạn nên chủ động là người đem đến khó khăn, hoạn nạn cho em gái và rồi ra tay giải quyết. Cái gì nằm trong tầm kiểm soát cũng hay hơn.

Bạn có thể nhân 1 dịp đến chơi nhà em gái, len lén bỏ vài viên thuốc diệt chuột hoặc 1 chút thuốc trừ sâu vào thức ăn của em. Em sẽ bị trúng độc, bạn nhanh chóng đưa em đi cấp cứu, sau đó ngày ngày đến chăm sóc em. Wow, nhiều thời gian bên cạnh tâm tình, khi em này bình phục, 2 người cứ gọi là ...

Tuy nhiên bạn nên lưu ý, nếu liều lượng thuốc diệt chuột (hoặc thuốc trừ sâu) quá cao, em sẽ không nằm bệt trên giường mà bay thẳng lên nóc tủ. Để tránh trường hợp này, bạn nên thử trước liều lượng với một số đối tượng như bạn bè cùng lớp, mấy ông bà hàng xóm ....

Có một cách khác, đó là nhờ mấy thằng đàn em, phóng xe húc cho nàng què cẳng.

Tuy nhiên cách này có thể khiến cho em gái của bạn mang thương tật vĩn viễn, gây mất thẩm mỹ. Vì vậy cách này giờ ít được áp dụng.

Cách 3Lấy cảm tình mẹ vợ

Tiếp tục nhờ đàn em giúp sức, cướp giật hoặc trấn lột bà kụ, sau đó bạn xuất hiện đưa kụ về. Nên tránh xông ra sớm quá, đụng độ với thằng đàn em thành ra không hay, cái kiểu anh hùng rơm bắt cướp không thật sự tốt, chẳng may thằng đệ bị bắt thật, nó khai thì oan gia, hỏng hết đường bột. Còn một điều nữa, nhắc thằng đệ ra tay mạnh mạnh 1 chút, bà kụ mất tỉnh táo, không nhận ra bạn là thằng nào đâu.


 

Cảm nhận:

1. Lộ hết bí mật rùi, các chàng ơi, heheheh....

2. Chà, các chàng cũng thix những câu chuyện hoang tưởng đấy chứ!

3. Thề ko iu 

 (vì bít đâu đang trúng 1 trong những kế sách kia???)

Khám phá siêu xe của Tổng thống Mỹ

Chiếc Cadillac của Tổng thống Mỹ Barack Obama do hãng General Motors chế tạo được ví như một chiếc xe tăng, được trang bị tận răng các hệ thống phòng thủ, thông tin liên lạc và một tài xế cừ khôi để thực thi nhiệm vụ chuyên chở vị tổng thống. Chiếc xe nặng 8 tấn được bọc giáp có khả năng chống đạn, chống bom và được trang bị nhiều loại thiết bị, máy móc và đồ dùng y tế để đề phòng các tình huống khẩn cấp có thể xảy ra.



 

J-turn: nghĩa là quay đầu xe 180 độ trong khi đang chạy lùi (hoặc chạy tới) sau đó tiếp tục chạy theo hướng đó. Xem video minh họa quay đầu xe J-turn.

Thứ Tư, 25 tháng 5, 2011

Phụ nữ là chúa rắc rối?




- Em có chuyện này muốn hỏi anh, anh hứa với em là trả lời thật lòng nhé!
- Em cứ nói đi, anh phải xem thử đó là chuyện gì thì anh mới hứa chứ!

- Thì anh cứ hứa đi rồi em sẽ nói cho, hứa nhé?
- Oy, em nói đi, có chuyện gì nào?

- Em hỏi anh này: "Anh có yêu em hem?"
- Em hỏi câu này hoài và anh cũng đã trả lời em rồi mà, tình cảm của anh đối với em thì em là người hiểu hơn ai hết mà.

- Nhưng em thích hỏi, anh trả lời thì có mất mát gì đâu, anh lúc nào cũng trả lời lấp lửng, nước đôi như vậy cả. Anh không còn yêu em nữa phải không? Em biết mà
- Em thiệt là... cứ suy diễn lung tung.

- Anh bảo em nhiểu chuyện, rắc rối chứ gì!
- Anh nói vậy hồi nào?

- Thì anh vừa nói em nhiều chuyện, rắc rối đó. Em biết mà, anh lúc nào cũng chê em này nọ, cứ mang em ra so sánh, em không bằng cô A, cô B của anh chứ gì?
- Cô A, cô B nào?

- Anh lại còn giả vờ à, thì cô A, cô B bồ cũ của anh chứ gì!
- Thiệt tình, anh đã giải thích với em bao nhiêu lần rồi. Giữa anh và cố ấy không có chuyện gì cả, chỉ là bạn bè gặp nạn thì chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau thôi, không như em nghĩ đâu. Em không tin thì thôi, anh cũng chẳng giải thích nữa, mặc em.

- Đó, thấy chưa, anh thấy chán ghét em rồi phải không, muốn bỏ em rồi phải không? Em biết mà.
- Anh bỏ mặc em hồi nào?

- Vừa mới nói mặc em đó, mới đây mà lại quên rồi. Anh có nghe những gì em nói nãy giờ không đấy?
- ...

Thứ Ba, 24 tháng 5, 2011

Anh sẽ yêu em bao lâu?




 Buổi trưa, ánh mặt trời giống như muốn làm say tất cả mọi thứ dưới đất. Trên con đường dài, có một chàng trai chở một cô gái...

" Anh sẽ yêu em bao lâu? "
Cô gái ôm chặt lấy chàng trai và ghé vào tai anh hỏi một câu hỏi ngọt ngào. Cô ấy biết, câu hỏi này không có đáp án chính xác 100 điểm.

Cô cười nũng nịu,

nói : " Em cho anh cơ hội nói một lời đường mật "

Chàng trai bắt đầu suy nghĩ. Nhân lúc dừng đèn đỏ, anh đưa tay lên rồi nói "Một" , anh muốn cô gái đoán đáp án của anh là gì.

Cô gái nghĩ một lúc, vui vẻ nói "Một đời"

Chàng trai cười, không phải là vì đáp án của cô gái không đúng, mà là anh cảm thấy sự thích thú ở cô.

Đèn xanh, chàng trai không đưa chiếc xe quay về đối mặt với hiện thực, cũng không thu lại nụ cười, từ từ nói với cô gái " Anh sẽ không trả lời kiểu như vậy, đáp án như thế rất hay nhưng không thực tế, giống như đang nói dối ... em đoán tiếp đi "

Câu trả lời làm cô gái rất hài lòng. Cô nghiêng đầu tiếp tục nghĩ..

"Một ngày " "a! nhưng chúng ta đã yêu nhau được 2 tháng rồi, một ngày, một tuần, hay một tháng, tất cả đều không thể"

Lại là đèn đỏ, chàng trai cầm tay cô gái, nhìn cô rồi cười. Cô gái cười rụt rè, lớn tiếng nói " Hay là một tíc tắc phải không ?"

Đáp án này làm chàng trai cười tưởng như suýt té ra đường "Đương nhiên không phải"

Anh vẫn luôn yêu vẻ hài hước, hóm hỉnh ở cô gái, yêu nụ cười trong sáng của cô. Câu trả lời làm anh nắm tay cô chặt hơn...

" Một năm phải không ?"

Đã qua một năm kể từ lúc anh ngỏ lời yêu với cô, cho nên đáp án 1 năm với cô gái là cực kỳ mâu thuẫn..

Chàng trai lắc đầu.

Thời gian giữa hai người đã không còn là chờ đợi, mà đã là thời gian trải nghiệm tình yêu.

" 100 năm là tuyệt rồi, yêu em 100 năm là đủ rồi."

Cô gái nói, không ngừng biểu hiện sự hạnh phúc.

Chàng trai nói : " 100 năm ngắn quá, không đủ để anh yêu em "

Những câu nói ngọt ngào là sở trường của các chàng trai. Yêu thì thích nghe những lời ngọt ngào, nhưng đối với con gái đó cũng lại là nhược điểm.

Cô gái cười, có ý nhắc chàng trai lại sắp đèn đỏ nữa rồi.

"Em muốn nghe đáp án rồi phải không ? " Chàng trai muốn nói ra câu trả lời mà cô gái muốn nghe " Anh sẽ yêu em bao lâu ?"

Chàng trai đưa tay rồi nói "
 Một .... Cho đến một ngày nào đó khi em không còn yêu anh nữa ... "
Cô gái kinh ngạc.

Cho đến một ngày nào đó khi em không còn yêu anh nữa.

Thứ Hai, 23 tháng 5, 2011

Công nghệ mạng ISDN - Integrated Services Digital Network


 

Mạng số các Dịch vụ Tích hợp

ISDN là một hệ thống điện thoại chuyển mạch số hoàn toàn được thiết kế đầu tiên bởi các công ty điện thoại và các nhà cung cấp dịch vụ toàn cầu như một sự thay thế cho hệ thốáng điện thoại tương tự. Nó được đề xuất vào năm 1984, với mục tiêu xây dựng hệ chuyển mạch hoàn toàn vào cuối thế kỷ. Một hệ thống số hoàn toàn có nhiều thuận lợi, bao gồm sự tin cậy, tính khả mở và thích hợp cho việc truyền dữ liệu.

Chuyển sang dùng ISDN cho dữ liệu phù hợp một cách tự nhiên, nhưng với các cuộc thoại thì đòi hỏi phải chuyển đổi sang điện thoại ISDN. Hiện đã có các adapter dành cho thiết bị không phù hợp ISDN. Đối với thương mại, ISDN cung cấp các kết nối chuyển mạch thiết thực hơn so với kết nối modem và rẻ hơn các đường thuê bao trong trường hợp nhu cầu băng thông luôn thay đổi. ISDN hỗ trợ băng thông theo yêu cầu, như sẽ được thảo luận sau nầy.

BRI (Basic Rate ISDN) Version ISDN đáng quan tâm nhất đối với người tiêu dùng vì nó vận hành trên dây đồng có sẵn, cung cấp các kênh thoại số và dữ liệu. BRI được chia thành hai kênh, một kênh 64 Kbit/sec (gọi là kênh B) và một kênh 16 Kbit/sec (gọi là kênh D) được dùng cho các tín hiệu điều khiển như xác lập cuộc gọi. Kênh B có thể được dùng cho thoại hoặc dữ liệu và được kết hợp để tạo thành kênh dữ liệu 128 Kbit/sec.

PRI (Primary Rate ISDN) Các tổ chức có nhu cầu dùng ISDN ở tốc độ dữ liệu cao hơn (cho các kết nối mạng) thì cần đến PRI. Về cơ bản nó cung cấp các kênh bổ sung theo yêu cầu, lên đến tổng số là 23 kênh B và một kênh D 64 Kbit/sec cho toàn bộ băng thông, tương đương với một đường T1 (1.544 Mbit/sec)

B-ISDN (Broadband ISDN) Vào năm 1988, CCITT bắt đầu phát triển các dịch vụ B-ISDN với tốc độ trên 155 Mbit/sec do dự đoán các dịch vụ video và thông tin đa phương tiện. Kiến trúc B-ISDN sử dụng ATM (Asynchronuous Transfer Network) ở tầng liên kết dữ liệu và SONET (Synchronuous Optical Network) ở tầng vật lý. SONET là mạng sợi quang được hiện thực đầu tiên bởi các nhà cung cấp truyền tải theo tốc độ quốc tế. Các nhà truyền tải dùng công nghệ B-ISDN để kết nối hệ thống của chính họ. Các người dùng cuối có thể có tận dụng thuận lợi nầy thông qua các kết nối tốc độ dữ liệu cao khác như DSL. Xem phần “B-ISDN (Broadband ISDN)” để có thêm chi tiết.

Có một sự khác nhau đáng kể giữa BRI/PRI và B-ISDN. B-ISDN là một dịch vụ chuyển mạch cell dựa theo ATM. Ngược lại, BRI và PRI là các dịch vụ chuyển mạch điện. Tuy nhiên, B-ISDN có thể hiện thực mạch ảo trong các dòng cell của nó. Môi trường B-ISDN được phát triển đầy đủ sẽ hiện thực chuyển mạch cell ATM ở mọi nơi - trong máy tính và mạng ở phía khách hàng và trong mạng truyền tải. Nhiều công ty lớn vẫn có phương tiện để thực hiện điều nầy. Hầu hết chỉ cần thêm một bộ chuyển mạch ATM đường trục ngay tại chỗ của họ, nối trực tiếp vào thiết bị ATM của nhà cung cấp truyền tải. Dưới đây là các thảo luận về Basic Rate ISDN và Primary Rate ISDN, là version hướng-người dùng của ISDN. Hiện nay nó đã có sẵn sàng ở khắp nơi và nhiều người dùng nó để xây dựng WAN hay để truy cập tốc độ cao vào Internet. Có nhiều phương pháp cạnh tranh nhằm tăng cường tín hiệu trên các đường truyền tương tự có sẵn, như được mô tả trong “DSI (Digital Subscriber Line)”, và các sản phẩm modem mới dùng kỹ thuật dồn kênh, như được mô tả trong phần “Inverse Multiplexing“.

Các Dịch vụ và Kết nối ISDN

Các dịch vụ ISDN có thể cung cấp kết nối số dầu cuối cho người tiêu dùng. Các dịch vụ nầy có thuận lợi là vẫn dùng cáp truyền sẵn có và cho phép người tiêu dùng truy cập vào mạng số ISDN được xây dụng bởi các công ty truền tải. ISDN yêu cầu một kỹ thuật đặc biệt để biến đổi giọng nói thành dữ liệu số. Điều nầy ngược lại với hệ thống tương tự cũ trước đây mà trong hệ thống nầy modem được dùng để biến đổi dữ liệu số của người dùng cuối thành dữ liệu tương tự để truyền trên đường tương tự.

Mạch ISDN hỗ trợ nhiều thiết bị ở cùng một thời điểm bằng hiện thực dồn kênh phân chia theo thời gian. Điều nầy có nghiã là dòng dữ liệu bit được chia thành các khung, với mỗi khung mang dữ liệu từ một thiết bị khác. Các bit được chuyển theo dòng đi qua mạch và được tách ra trên bộ truyền tải cuối rồi phân phối về thiết bị đích.

Ở Bắc Mỹ, nhà truyền tải lắp đặt một thiết bị NT (Network termination) ở phía khách hàng. Như minh hoạ trong hình I-19, thiết bị NT1 kết nối khách hàng với đường truyền tương tự của công ty điện thoại. Đối với gia đình hay văn phòng nhỏ dùng các kết nối BRI, ISDN kết nối trực tiếp vào NT1. Đối với doanh nghiệp lớn cần nhiều đường (PRI), thì phải thêm một giao diện NT2. NT2 hỗ trợ hệ thống chuyển mạch, dồn kênh và tập trung nhiều đường ISDN từ PBX (voice calls) hay từ mạng LAN.

Thiết bị NT cung cấp một kết nối cho thiết bị TE (terminal equipment) và TA (terminal adapter) vào mạng dữ liệu. Thiết bị TE thì tương thích với ISDN, còn các TA là các thiết bị cung cấp kết nối cho các thiết bị không-ISDN như điện thoại hiện dùng. TA giống như một modem và thường có một đầu nối với điện thoại và một đầu nối với PC.

Thiết bị NT có thiết kế cho phép nối với tám thiết bị, và do NT quản lý điạ chỉ. Mạch bên trong NT làm nhiệm vụ cấp phát thời gian cho mỗi thiết bị được truy cập đường dây, dùng chiến lược điều khiển cạnh tranh. Chú ý rằng không phải tất cả thiết bị NT đều như nhau. Một số có thể chỉ có hai đầu nối, một cho dữ liệu và một cho điện thoại.

Băng thông theo yêu cầu

Như đã đề cập tới, ISDN hỗ trợ băng thông theo yêu cầu, gia tăng nhất thời tốc độ truyền tải. Với thiết bị và phần mềm thích hợp, thiết bị ISDN sẽ nối các đường phụ khi cần để kiểm soát sự đột biến lưu lượng truyền hay để điều hành các nhu cầu nhất thời cho hội nghị video. Như đã được bàn trong phần “Bandwidth on Demand”, các mạch bổ sung được kết hợp lại để tạo ra một đường ống dữ liệu lớn hơn. Quá trình nầy có thể tự động hay được lập trình chạy ở những khoảng thời gian xác định trong ngày. Với mạch chuyển, bạn chỉ phải trả tiền những gì mà bạn dùng, vì vậy mạch sẽ được gỡ bỏ ngay khi hết yêu cầu.

Với BRI, hai kênh có thể kết hợp lại thành đuờng kết nối dữ liệu 128 Kbit/sec. Với PRI, 23 kênh có thể được kết hợp lại khi cần để cung cấp tốc độ truyền lên đến 1,536 Mbit/sec (Ở Mỹ). Các giao thức để kết hợp các đường là đa kết nối PPP (Point-to-Point Protocol Multilink) và BACP (Bandwidth Allocation Control Protocol), được thảo luận trong những chủ đề liên quan. Cả hai giao thức đều xác định cách gửi datagram trên nhiều đường đã tổ hợp lại. Tuy nhiên, BACP làm việc liên kết với đa kết nối PPP để cung cấp kết nối kênh động. Hai hệ thống ngang hàng sẽ dàn xếp với nhau để thay đổi băng thông cho đa kết nối PPP khi cần.

Giao diện kênh tín hiệu

Kênh D được tách riêng với kênh B và cung cấp tín hiệu thiết lập cuộc gọi. Tín hiệu nầy vận hành trong các tầng vật lý, kết nối dữ liệu và tầng mạng (trong mô hình giao thức OSI). Các giao thức xác định kiểu thông điệp được trao đổi giữa thiết bị khách hàng, và trao đổi cục bộ dùng để thiết lập và duy trì dịch vụ. Các dịch vụ được cung cấp bởi mỗi tầng giao thức được mô tả dưới đây:

Physical layer (Tầng vật lý) thiết lập một kết nối chuyển mạch điện cung cấp truyền tải 64 Kbit/sec. Việc kiểm tra hồi tiếp và theo dõi cũng được quản lý trong tầng nầy. Tầng nầy cũng hỗ trợ đường multidrop cho việc kết nối điện thoại, máy tính và các thiết bị khác.

Data link layer (Tầng liên kết dữ liệu) dùng LAPD (Link Access Procedure for D Channel) cũng là một HDLC (High-level Data Link Control). LAPD làm việc trên kênh D để cung cấp thông tin điều khiển và tín hiệu. Nó cung cấp các dịch vụ liên vận khung (frame relay) và chuyển mạch khung (frame-switching) trong đó các khung được định tuyến thông qua các nút trung gian. Tầng liên kết dữ liệu chuyển tiếp các khung bằng cách đọc thông tin điạ chỉ và gửi tiếp các khung theo đường dẫn ảo tương ứng đến đích của chúng. Có thể có nhiều đích. Các thiết bị hoạt động ở tầng nầy là PBX số (private branch exchanges) và các thiết bị cầu nối cho máy tính. tầng nầy có thể dùng để cài đặt mạng riêng giữa hai site.

Network layer (tầng mạng) có thể cung cấp các dịch vụ chuyển mạch gói tương tự như X.25. Nó cũng có thể cung cấp chuyển mạch điện và kết nối người dùng với người dùng. Các thông điệp được phát ra trong tầng nầy được truyền đi bằng các giao thức tầng liên kết dữ liệu.

 

Circuit-Switching Services


Dịch vụ chuyển mạch

Dịch vụ chuyển mạch, ngược lại với chuyển gói, tạo nên kênh truyền thông chuyên dụng giữa hai hệ thống đầu cuối. Các cuộc gọi điện thoại trên mạng là một ví dụ. Đối với kết nối gia đình hoặc văn phòng, một mạch bắt đầu từ một cặp dây xoắn từ vị trí người gọi đến trung tâm chuyển mạch điện thoại ở địa phương. Nếu kết nối là giữa hai điện thoại trong cùng một khu vực, bộ chuyển mạch cục bộ là đủ để hoàn tất một mạch. Điều nầy được minh họa bởi các kết nối A1-A2 trong hình C-5. Nếu việc kết nối giữa các điện thoại là khác vùng, một mạch được thiết lập qua một sự trao đổi trung gian như mạch C1-C2. Các mạch đường dài được thực hiện qua một văn phòng chuyển mạch từ xa như mạch B1-B2.

Sự khác biệt giữa mạch chuyên dụng (dedicated circuit) và mạch chuyển mạch (switched circuit) là mạch chuyên dụng luôn được nối kết, và mạch chuyển mạch được thiết lập và ngắt bất kỳ lúc nào, giảm được chi phí kết nối. Các mạch chuyển mạch có thể bổ sung cho đường dây chuyên dụng (dedicated line). Ví dụ, một cầu nối hoặc bộ định tuyến thích hợp có thể dùng giao thức quay số theo yêu cầu (dial-on-demand) để quay số tự động đến đường dây chuyển mạch nếu luồng giao thông trên đường vượt quá khả năng của nó. Tham khảo mục “DDR (Dial-on Demand Routing)” để biết thêm thông tin. Các mạch chuyển mạch còn được dùng để truyền dữ liệu giữa các văn phòng từ xa. Một mạch chuyển mạch có thể kết nối để truyền một gói thư điện tử theo từng 15 phút.

Trong mạng chuyển gói, dữ liệu được phân chia thành các gói và truyền qua mạng hiện được chia sẻ cho các khách hàng khác. Các gói được xen kẻ với các gói từ nhiều nguồn khác. Bằng cách nầy việc sử dụng mạng sẽ hiệu qủa hơn và giảm được chi phí sử dụng, nhưng các mạng chuyển gói có thể bị chậm trễ khi có khách hàng nào đó tải quả nhiều lưu thông trên mạng. Các công ty điện thoại đã phát triển mạng chuyển mạch tốc độ cao sử dụng ATM (Asynchronous Transfer Mode) để giải quyết vấn đề nầy. ATM dùng các cell có kích thước cố định và chuyển mạch cao tốc để cải tiến dịch vụ.

Một số vấn đề cần lưu ý về các dịch vụ chuyển mạch:

- Một mạch end-to-end phải được thiết lập trước khi bắt đầu truyền thông. Các nhà cung cấp dịch vụ có thể làm mạch nầy thường trực (permanent) hoặc quay số (dial-up)

- Một khi mạch được cài đặt, khách hàng có thể truyền với các tốc độ khác nhau và những cách định khung khác nhau để truyền dữ liệu giữa các hệ thống đầu cuối.

- Các mạng chuyển mạch chia các gói theo thứ tự và không gây ra chậm trễ đường truyền từ các khách hàng khác.

- Chuyển gói được ưa thích hơn đối với dịch vụ đường dài và chuyển mạch là thích hợp hơn cho các dịch vụ đường ngắn.

Các mạch ảo dùng riêng (private virtual circuit) được cài đặt trên mạng chuyển gói/cellxem mục “Virtual Circuit”. Như đã đề cập, ISDN (Integrated Services Digital network) là một ví dụ về các dịch vụ chuyển mạch. Tốc độ cơ bản của ISDN là hai kênh chuyển mạch tốc độ 64kbit/sec có thể dùng cho thoại hoặc dữ liệu. Các điện thoại ISDN số hóa âm thanh tương tự thành thông tin số để chuyển qua mạch. Hai kênh 64kbit/sec có thể kết hợp thành một kênh 128kbit/sec để truyền dữ liệu. Người dùng có thể quay đến bất kỳ nơi nào để thiết lập một mạch, như vậy kết nối được chuyển mạch. Trái lại, ISDN băng tần rộng (broadband) có định hướng chuyển gói (packet-switched orientation) và có thể tăng tốc độ dữ liệu lên rất cao. ISDN là một sản phẩm mà các công ty điện thoại mong muốn nhằm tạo ra một hệ thống điện thoại hoàn toàn số có khả năng chuyển mạch. Công nghệ nầy được đề nghị đầu tiên vào đầu những năm 1980 và cho đến nay vẫn còn xây dựng.

 

DSL


Digital Subscriber Line - Đường thuê bao Số

Công nghệ DSL cải tiến đáng kể băng thông của các hệ điện thoại tương tự hiện nay. Nó có thể cung cấp độ thông suất (throughput) lên đến 52 Mbit/s qua những khoảng cách giới hạn.

DSL nâng cấp dung lượng dữ liệu của đường truyền xoắn cặp giữa tổng đài điện thoại của công ty điện thoại và các gia đình. Băng thông của đường truyền nầy bị giới hạn cỡ 3000 Hz do được sử dụng cho hệ thoại. Trong khi bản thân đường truyền có thể xử lý các tần số cao hơn, các thiết bị chuyển mạch điện thoại được thiết kế để cắt các tín hiệu trên 4000 Hz để lọc nhiễu trên đường truyền. Dĩ nhiên là các công ty điện thoại sẽ không giận dữ khi nâng cấp thiết bị chuyển mạch của họ để có được băng thông lớn hơn, nhất là khi đi kèm với Internet. Ngày nay mọi người đang tìm cách tăng dung lượng băng thông để cải tiến truy cập web. DSL là thành công lớn nhất, nhưng nhiều người còn nhớ những hứa hẹn của ISDN (Intergrated Services Digital Network), ngày nay trở nên phổ biến sau 12 năm quảng cáo dữ dội. Các công ty TV cáp cũng đưa ra truy cập cao tốc (dùng Ethernet 10Mbit/s) qua hệ cáp sẵn có. Điều nầy sẽ dẫn đến sự cạnh tranh với các công ty điện thoại hoặc buộc các công ty điện thoại đưa ra dịch vụ DSL nhanh hơn cả dịch vụ ISDN.

Có bảy loại hình dịch vụ DSL, phân theo tốc độ từ 16Kbit/s đến 52 Kbit/s. Các dịch vụ nầy hoặc đối xứng (có cùng tốc độ theo cả hai chiều), hoặc bất đối xứng (dung lượng đến có thể cao hơn dung lượng đi). Các dịch vụ bất đối xứng là thích hợp cho người dùng Internet vì người ta lấy về thông tin nhiều hơn là gởi đi. Ví dụ, chỉ cần nhấp một nút chuột là có thể lấy về nhiều thứ, gồm cả ảnh và văn bản.

Nên nhớ rằng khi tốc độ truyền tăng thì khoảng cách truyền tải giảm đi. Điều nầy có nghĩa là những người dùng ở qúa khoảng cách nhất định từ công ty điện thoại sẽ không thể đạt tốc độ cao. Ví dụ, Dịch vụ tốc độ cao nhất đòi hỏi khách hàng ở trong phạm vi 1000 bộ tính từ tổng đài trung tâm. Mặc dù ít gia đình đạt điều kiện nầy, nhưng nhiều công ty gần công ty điện thoại sẽ hưởng được dịch vụ nầy.

Các kết nối DSL là điểm-điểm chuyên dụng, nghĩa là luôn luôn được kết nối. Không còn dịch vụ dial-up nữa. Cũng không còn vấn đề chuyển mạch nữa, nghĩa là đường truyền là kết nối trực tiếp vào hệ thống frame relay, ATM hoặc Internet của nhà cung cấp. Về phía khách hàng, cần phải có modem DSL, và nhà cung cấp phải có thiết bị hỗ trợ để cung cấp dịch vụ. Có hai kỹ thuật điều biến xung đột nhau, vì thế người dùng phải bảo đảm rằng modem của họ tương thích với thiết bị của nhà cung cấp. Nhiều nhà cung cấp đang đưa ra các gói dịch vụ đi kèm với modem thích hợp.

Ví đường truyền luôn trực tuyến, bạn có thể nghĩ rằng RBOC (regional Bell operating companies) sẽ tính giá cao, nhưng gía hiện nay, với thông suất bằng đường truyền T1, là dưới $150/tháng. Giá nầy có thể cao đối với gia đình, nhưng vẫn chấp nhận được đối với các văn phòng tại nhà. Khách hàng cũng cần xét đến giá modem, khoảng từ $500-$1000/cái.

Để ý rằng dịch vụ T1 là không thích hợp để dùng ở nhà vì nhiều lý do. Thứ nhất, là nó gây ra tiếng nhiễu (cross-talk) giữa các cặp xoắn trong cáp 50 cặp chạy từ công ty điện thoại đến các khu dân cư. Điều nầy có nghĩa là chỉ có thể dùng một đường truyền T1 cho một đường cáp 50 cặp. Kỹ thuật mã hóa đường truyền trong T1 cũng phí phạm băng thông, và các bộ lặp lại tín hiệu (repeater) phải có theo từng 2km. Các dịch vụ DSL giải quyết được vấn đề nầy và cung cấp thông suất cao hơn.

HDSL (High-bit-rate Digital Subscriber Line) HDSL là dịch vụ phổ biến nhất. Nó cung cấp tốc độ T1 1.544 Mbit/s qua đường truyền với khoảng cách 3.6km. Nói chung, HDSL là dịch vụ T1 không cần dùng repeater nhưng dùng hai đường truyền.

SDSL (Symetrical Digital Subscriber Line) SDSL là dịch vụ đối xứng giống như dịch vụ HDSL nhưng hoạt động trên dây xoắn cặp. Nó cung cấp tốc độ T1 1.544 Mbit/s, và hoạt động trên tần số thoại, vì thế thoại và dữ liệu có thể được truyền trên cùng đường truyền.

ADSL (Asymetrical Digital Subscriber Line) ADSL là dịch vụ tốc độ cao cho các đường nội hạt. Đây là công nghệ bất đối xứng, nghĩa là tốc độ đến cao hơn nhiều so với tốc độ đi. Điều nầy thích hợp với các phiên làm việc trên Internet, trong đó thông tin lấy về nhiều hơn hẳn thông tin gởi đi. ADSL hoạt động trong dải tần số trên tần số thoại, vì vậy hai hệ thống có thể vận hành trên cùng đường truyền. Tốc độ truyền đến và khoảng cách được liệt kê trong bảng dưới đây. Tốc độ truyền đi trong phạm vi từ 16Kbit/s đến 640 Kbit/s. Downstream rate Downstream distance

1.544 Mbit/s 5.5 km

2.048 Mbit/s 4.8 km

6.312 Mbit/s 3.6 km

8.448 Mbit/s 2.7 km

VDSL (Very high bit rate Digital Subscriber Line) VDSL về cơ bản là dịch vụ ADSL với tốc độ cao hơn nhiều. Đây là dịch vụ bất đối xứng có tốc độ truyền đến cao hơn nhiều so với tốc độ truyền đi. Dịch vụ nầy được dùng trên cùng một đường truyền với mạng điện thoại và ISDN. Tốc độ truyền đi từ 1.6Mbit/s đến 2.3 Mbit/s. Tốc độ truyền đi được liệt kê trong bảng dưới đây:

Upstream rate Upstream distance

12.96 Mbit/s 1.4 km

25.82 Mbit/s 0.9 km

51.84 Mbit/s 0.3 km

RADSL (Rate-Adaptive Digital Subscriber Line) Dịch vụ nầy cũng tương tự như ADSL, nhưng có đặc điểm thích nghi với tốc độ (rate-adaptive). Tốc độ truyền được thay đổi theo chất lượng đường truyền và chiều dài đường truyền. Kỹ thuật line-polling được dùng để thiết lập tốc độ kết nối trong lần đầu tiên thiết lập đường truyền.

ADSL đang được chú ý nhiều nhất như là một dịch vụ truy cập Internet. Nó được ANSI phê chuẩn. Các hãng truyền tải và các nhà cung cấp dịch vụ Internet đang cố gắng loại bỏ những tin xấu về cài đặt ISDN và đang nỗ lực để bảo đảm dịch vụ ADSL là dễ thiết lập. Khách hàng chỉ cần có hệ tương thích với TCP/IP, Ethernet adapter và modem ADSL để có thể truy cập Internet. Có thể thuê modem như là một phần của dịch vụ nầy. Giá modem loại nầy khoảng từ $500-$1000.

Đối với các kết nối văn phòng, đường truyền ADSL truyền tải lưu lượng ATM trực tiếp vào hệ chuyển mạch ATM của nhà cung cấp. Các gói IP được đặt trong cell ATM, sau đó được truyền qua đường ADSL. Hãng Arial (http://www.arial.com) đã phát triển một adapter ATM cho máy trạm. Cho phép truy cập trực tiếp đến dịch vụ ADSL không dùng modem.

Hai kỹ thuật điều biến (mã hóa trên đường truyền) đang được dùng cho ADSL. Một kỹ thuật là DMT (discrete multitone), được thiết lập như chuẩn ANSI. Kỹ thuật khác, gọi là CAP (carrierless amplitude and phase) đang được nhiều nhà cung cấp ủng hộ. Với DMT, phổ đường truyền điện thoại được chia thành 256 kênh 4 kHz. Mỗi kênh tránh được nhiễu và giao thoa với các tín hiệu phổ rộng. CAP dùng một kênh và kỹ thuật điều biến gọi là QAM (quadrature amplitude modulation) tương tự như trong modem V.34 (28.8 Kbit/s). Khi mua modem ADSL, cần bảo đảm các thiết bị kết nối sử dụng cùng một kỹ thuật mã hóa. Các modem ADSL dùng DMT sử dụng kỹ thuật FDM (frequency division multoplexing) để tạo 3 kênh riêng biệt, xem hình D-32. Để ý đến kênh thoại, kênh truyền đi tốc độ thấp và kênh truyền đến tốc độ cao. Kỹ thuật lọc được dùng để cô lập mạch thoại với các kênh ADSL, và bảo đảm dịch vụ thoại không bị ngắt trên đường truyền. Nó cũng tách dịch vụ dữ liệu khỏi dịch vụ thoại, làm giảm tắt nghẽn cho hệ điện thoại.

 

PSTN


Public-Switched Telephone Network - Mạng điện thoại chuyển mạch công cộng

PTSN đã được dùng như là hệ thống chuyển mạch điện thoại trong nhiều năm. Hệ thống nầy truyền tải các cuộc gọi điện thoại bằng tín hiệu analog bằng cáp đồng xoắn từ nhà và văn phòng đến nhà truyền tải; thường được gọi là local loop (vòng lặp cục bộ). PSTN là một hệ thống chuyển mạch điện, nghĩa là toàn bộ mạch nầy được thiết lập riêng cho người gọi và người được gọi. Để truyền tải tín hiệu dạng digital thì bạn phải dùng modem. Các trạm chính của nhà truyền tải được nối kết với nhau bằng nhiều loại phương tiện truyền thông, gồm cáp đồng, cáp quang, và các tháp truyền sóng ngắn. Các cuộc gọi thường được chuyển qua dạng dữ liệu digital để truyền tải qua các phương tiện nầy. Chỉ có vòng lặp cục bộ (local loop) là giữ lại các đặc tính của hệ thống điện thoại gốc.

Wide Area Network - Mạng Diện Rộng

Mạng WAN nối các văn phòng cách xa nhau của một tổ chức thông qua các kênh truyền thông công cộng hay dành riêng. Cách đây không lâu, chỉ có ít cách để làm điều nầy. Bạn có thể nối mạng các văn phòng bằng các modem quay số chậm chạp hay nối qua các đường truyền thuê bao. Các line nầy có thể truyền dẫn thông tin với tốc độ cao nhưng phải trả cước phí khá lớn vì giá cước sẽ tăng theo khoảng cách.

Chủ Nhật, 22 tháng 5, 2011

Có lẽ vì...anh yêu em




Mặt trời thì luôn đỏ

Lá cỏ thì luôn xanh

Và anh luôn yêu em

Cái này chắc em biết



Niềm vui khôn tả xiết

Như biển cả mênh mông

Khi được biết thật lòng

Anh yêu em nhiều lắm



Một mối tình đằm thắm

Như trong những giấc mơ

Anh mong mỏi đợi chờ

Ngày được làm lễ cưới



Ngày mà ở bên dưới

chân chúng mình đầy hoa

Và em, nàng chúa hoa

Em xinh như trong mộng


Một mối tình hạnh phúc
Dù qua nhiều bão giông
Với tình cảm thật lòng
Sẽ vượt qua tất cả...








Thứ Bảy, 21 tháng 5, 2011

Mỗi ngày có rất nhiều hạnh phúc




 

Trong cuộc sống, mỗi người sẽ có rất nhiều, nhiều hạnh phúc nhưng mà có lẽ chúng ta sẽ không để ý đến nó, vì hạnh phúc đó rất là nhỏ bé và hạnh phúc đó xuất phát từ tất cả những gì xung quanh ta. Hãy làm theo tôi mỗi ngày viết lên những điều mà bạn thấy, bạn đã làm, bạn tiếp xúc, bạn gặp, những điều xảy ra trong một ngày.v.v.. (hãy cố nhớ mọi thứ làm bạn cảm thấy vui, ko bực tức trong ngày) để một lúc nào đó khi bạn rơi vào trạng thái buồn bã, sầu khổ thì hãy đọc lại những điều này và cảm nhận được một điều là hạnh phúc có rất nhiều trong cuộc sống và bạn sẽ cảm thấy yêu đời hơn, giúp vơi đi không hẳn 100% nỗi buồn nhưng cũng giúp bạn giảm đi một phần gánh nặng mà bạn đang mang theo trong lòng...

 

  1. Hạnh phúc là khi thoát khỏi một con đường nào đó đang kẹt xe đông đúc. (Nhích từng bước chân, khói xe nồng nặc, chờ đợi mệt mõi...)                                                               

  2. Hạnh phúc là khi chiến thắng được bản thân mình, đứng trước mọi người để trình bày một đề tài nào đó : về tình yêu, về hôn nhân gia đình và về Mẹ... và sau đó được mọi người góp ý, sửa sai mọi mặt. (Ban đầu cảm giác rất hồi hộp, sợ quê, tim đập thình thịch yếu đuối, nhưng sau đó sự tự tin mạnh mẽ sẽ đến)

  3. Hạnh phúc là khi biết kiềm chế được nỗi đau trong mọi hoàn cảnh để thoát khỏi nó. Lúc đó lòng sẽ thanh thản và nhẹ nhàng hơn rất nhiều. (nỗi đau sẽ làm buồn không muốn ăn, không ngủ được, đau nhói tim)

  4. Hạnh phúc là khi tình cờ gặp một người con gái trên đường với chiếc răng khểnh và nụ cười duyên dáng quay lại hỏi rằng : "Anh ơi, đèn đỏ có thể quay xe lại chạy được không ?". (Cứ tưởng như một câu hỏi về đường đi, ko ngờ một câu hỏi mà ngay cả trong lúc học thi bằng lái xe cũng ko có câu này, nhưng vẫn trả lời đại luôn là có thể quay xe chạy hướng ngược lại được vì ko vượt qua đèn đỏ, sau đó nhận được một lời cảm ơn ngọt ngào và một nụ cười thật quyến rũ...)

  5. Hạnh phúc là khi trong một ngày làm việc ta có việc để làm, và tập trung vào nó thật nhiều, không nghĩ đến thời gian và cuối cùng làm hoàn thành hết công việc của một ngày. (mỗi khi không có việc cứ ngồi đợi thời gian từng giây, từng phút trôi qua thật là chán nản và buồn bã)

  6. Hạnh phúc là khi ta được người khác khao ăn trưa, và nước uống cùng một lúc. (dù điều này rất hiếm xảy ra)

  7. Hạnh phúc là khi ta chọc, ghẹo làm một ai đó cười. (dù rất dở và ít khi biết chọc ghẹo mọi người bao giờ)

  8. Hạnh phúc là khi tình cờ thưởng thức lại một bài nhạc rất hay mà đã lãng quên trong tâm trí lúc nào không hay biết. (bài hát nhẹ nhàng đã nghe từ rất lâu tưởng chừng như đã chìm vào quên lãng, sẽ không bao giờ có thể nghe lại, nhớ lại được những giai điệu trữ tình)

  9. Hạnh phúc là sau khi làm được những việc sau : lấy tay chạm vào con muỗi đang đốt để nó bay đi, thổi một chú kiến đang cắn cũng để bay đi, gỡ một chiếc bẫy đang kẹp chặt chân một chú chuột nhắt để nó chạy đi, đẩy một con gián bị ngữa chân lên trời không di chuyển được. (Dù là con vật nào đều cũng cần đến sự sống, vì miếng ăn mà giết chúng thì thật là tàn nhẫn khi nhìn thấy ánh mắt 1 chú chuột đen tuyền đang nhìn như đang cầu cứu thì ko thể nào làm ngơ được)

  10. Hạnh phúc là khi được cắp sách đi học những môn học yêu thích, những lời chỉ dạy vui tươi và dí dỏm, cười đau cả răng. (Một lớp học mà tất cả các thầy cô đều giảng dạy rất vui, tận tình)

  11. Hạnh phúc là khi ta thấy mình từ bỏ được mọi điều xấu, sửa đổi từng chút một, giảm khuyết điểm, tăng ưu điểm. (có những việc biết sai nhưng vẫn làm, để rồi lương tâm luôn mãi cắn rứt về bản thân, đến khi sửa sai được thì mới thấy tốt đẹp hơn)

  12. Hạnh phúc là khi ngày mai thức dậy ta sống, làm việc, sinh hoạt lại có thêm nhiều hạnh phúc để mà viết tiếp mỗi ngày...

Thứ Sáu, 20 tháng 5, 2011

Subnet Mask










Là quy ước về đặt địa chỉ, trong các mạng WAN (là mạng nối nhiều LAN lại với nhau= LAN-to-LAN), các bộ định tuyến (router- các thiết bị làm chức năng quyết định chuyển một gói tin nào đó về mạng LAN A, B, C hay D dựa vào "destination network address" của gói tin đó. 

Router làm chức năng tương tự như "người Phụ trách phân loại thư từ theo địa chỉ đến được ghi trên bì thư" của ngành bưu điện: trước khi đi phát thư, người này sẽ phân loại thư và giao cho người Bưu tá phụ trách từng khu vực để họ đi phát thư) sẽ quyết định gói tin ở trên mạng sẽ được "chuyển giao" cho subnet nào tùy vào địa chỉ của Subnet đó trong phần "tiêu đề" (header) của gói tin. Ví dụ: Subnet của mạng LAN trong công ty GREENTEK có dạng: 255.255.255.0. Do vậy máy tính của tôi sẽ có địa chỉ là: 100.100.100.10 và các máy tính khác cùng Subnet nhất thiết phải có địa chỉ là: 100.100.100.X với X là số nguyên có giá trị từ 0-254).• Công ty A có 2 mạng LAN và có nhu cầu kết nối lại với nhau.
• Việc kết nối 2 mạng LAN (hay còn gọi là 2 phân mạng LAN - LAN segment) lại với nhau: LAN 1 tại Văn phòng ở Sài Gòn, LAN 2 ở Hongkong sử dụng một đường truyền số liệu là kênh thuê riêng tốc độ 64Kbps (64Kbps leased line) và một cặp Router (bộ định tuyến).
• Hệ thống mạng LAN-to-LAN này sử dụng giao thức TCP/IP để liên lạc với nhau. Xin nhắc lại: TCP/IP là bộ giao thức hỗ trợ định tuyến - routable network protocol. Do vậy nó cho phép MÁY 1, MÁY 2 & MÁY 3 được phép "vượt qua" ranh giới của Văn Phòng ở Sài Gòn để "nói chuyện" với các máy tính MÁY 4, MÁY 5, MÁY 6.
• SUBNET 1 là tên mà tôi đặt cho mạng LAN ở Sài Gòn. SUBNET 1 có Subnet mask (quy định về cách đặt địa chỉ ở lớp mấy) là 255.255.255.0 (nghĩa là gồm 3 lớp A.B.C) và địa chỉ cụ thể là 100.100.100.X. Do vậy, mỗi "nút" mạng trên SUBNET 1 đều có địa chỉ là 100.100.100.X với X là số chạy từ 1 - 254. Cụ thể là:
o MÁY 1 có địa chỉ: 100.100.100.2
o MÁY 2 có địa chỉ: 100.100.100.3
o MÁY 3 có địa chỉ: 100.100.100.4
o ROUTER ở SUBNET1 (Router cũng là một "nút" mạng): 100.100.100.1
• SUBNET 2 là tên mà tôi đặt cho mạng LAN ở Hongkong. SUBNET 2 có Subnet mask (quy định về cách đặt địa chỉ ở lớp mấy) là 255.255.255.0 (nghĩa là gồm 3 lớp A.B.C) và địa chỉ cụ thể là 100.100.200.Y. Do vậy, mỗi "nút" mạng trên SUBNET 2 đều có địa chỉ là 100.100.200.Y với Y là số chạy từ 1 - 254. Cụ thể là:
o MÁY 4 có địa chỉ: 100.100.200.2
o MÁY 5 có địa chỉ: 100.100.200.3
o MÁY 6 có địa chỉ: 100.100.200.4
o ROUTER ở SUBNET 2 (Router cũng là một "nút" mạng): 100.100.200.1
• Trong thực tế, trong sơ đồ mạng ở trên có tất cả là 3 Subnet khác nhau: SUBNET 1, SUBNET 2 và SUBNET 3 là phần mạng diện rộng (WAN)


• SUBNET 3 là tên mà tôi đặt cho mạng WAN kết nối 2 mạng LAN ở Sài Gòn và Hongkong lại với nhau. SUBNET 3 có Subnet mask (quy định về cách đặt địa chỉ ở lớp mấy) là 255.255.255.0 (nghĩa là gồm 3 lớp A.B.C) và địa chỉ cụ thể là 100.100.300.Z. Do vậy, mỗi "nút" mạng trên SUBNET 3 đều có địa chỉ là 100.100.300.Z với Z là số chạy từ 1 - 254. Cụ thể là:
o Giao diện WAN của Router ở Sài Gòn có địa chỉ: 100.100.210.1
o Giao diện WAN của Router ở Sài Gòn có địa chỉ: 100.100.210.2
• Như vậy, tôi hy vọng các bạn có thể hiểu khái niệm về "subnet", "subnet mask" và cách đặt địa chỉ dựa theo bộ giao thức TCP/IP.


Qua ví dụ trên, các bạn cũng có thể hiểu định nghĩa của cụm từ "giao thức hỗ trợ định tuyến" (routable network protocol). Bởi, bản thân từ "giao thức mạng" là tương đối "khó hiểu" đối với các bạn không chuyên ngành CNTT hoặc chuyên ngành CNTT nhưng không học chuyên đề mạng.

Do bộ giao thức về TCP/IP là một trong các chuẩn mạng "cực kỳ" quan trọng đối với người ham thích tìm hiểu và "hành nghề" mạng. Việc tham khảo thêm các tài liệu chuyên ngành về TCP/IP là "cực kỳ" bổ ích. Bởi vì ngày nay, khoảng cách về không gian và thời gian giữa quốc gia quốc gia và giữa cá nhân với cá nhân gần như không tồn tại. Điều đó ít nhiều liên quan đến khái niệm "net" hoặc "Internet". Mà các từ "net" hoặc "Internet" lại là "các tên gọi của mạng sử dụng bộ giao thức TCP/IP".

Một ví dụ khác rất thiết thực là khái niệm "VOIP" (Voice Over IP) hoặc IP Phone là một ứng dụng (trong vô vàn ứng dụng) của giao thức IP (Internet Protocol): gọi điện thoại qua mạng Internet. Khi bạn sử dụng các dịch vụ mạng: 171, 177 và 178 của các nhà cung cấp: Tổng Công ty Bưu Chính Viễn Thông Việt Nam (qua mạng VNN), Công ty Sài Gòn Postel (Saigon Net), Công ty Điện Tử Viễn thông Quân Đội (Vietel) để gọi điện thoại đường dài liên tỉnh hoặc gọi điện thoại đi nước ngoài với giá khá "bèo" : cước phí từ trên 2.0 USD-3.8USD/phút tùy theo quốc gia theo cách gọi thông thường (IDD call: International Direct Dialing, cách gọi: "00" +Mã quốc gia + mã vùng + số điện thoại thuê bao) được giảm xuống 1.4 USD/Phút hoặc thấp hơn cho tất cả các cuộc gọi đi tất cả các nước thông qua các dịch vụ trên (Internet call, cách gọi: 171+"00"+Mã quốc gia + mã vùng + số điện thoại thuê bao).

Nói như vậy, nghĩa là chi phí điện thoại hàng tháng của bạn sẽ giảm xuống rất nhiều. Cho dù bạn là cá nhân hay doanh nhiệp bạn cũng phải công nhận là Internet và các dịch vụ của nó như VOIP, WWW, E-mail cũng đã ít nhiều góp phần "làm cho cuộc sống của bạn tốt đẹp hơn". Khái niệm "IP on Everything" - "nối mạng IP cho tất cả" là một khái niệm đang dần trở nên khá quen thuộc với mọi người.