This is my blog: vuvanson.tk

Go to Blogger Vi-et Spaces.

This is my blog: sonblog.tk

Go to Blogger Vi-et Spaces.

This is my blog: vi-et.tk

Go to Blogger Vi-et Spaces.

This is my facebook: https://www.facebook.com/vusonbk

Go to Facebook Blogger Vi-et Spaces.

This is my facebook page: https://www.facebook.com/ViEtSpaces

Go to Facebook Page Blogger Vi-et Spaces.

Thứ Tư, 30 tháng 3, 2011

NOTHING



 

Đã có bao giờ bạn ngồi một mình nơi bãi biển vào một buổi chiều nghe gió biển lành lạnh lướt qua. Cảm giác thế nào khi lâu đài cát mà mình vừa xây bị nước biển tràn vào làm đổ, lại xây lại đổ …  lâu đài cát của bạn vụn vỡ nát rời, . . . man mác buồn, cảm giác mất mát chảy trôi .… 
  Đã có bao giờ bạn chạy xe lang thang ngoài đường vào một buổi chiều . . . Bạn chẳng biết đi đâu, và cứ thế mà lang thang. . . không mời mà cái cảm giác buồn man mác ấy lại tràn về . . . 
  
   Đã có bao giờ bạn ngồi một mình trong một quán café thật vắng, tay cầm một cuốn sách, bên tai vang vang một bản nhạc nhè nhẹ, thỉnh thoảng lại thả hồn đi đâu đâu… 
    
   Đã có khi nào, vào những buổi chiều sau một cơn mưa bất chợt, giữa dòng người đông đúc, vội vã . . .  lòng chợt se lại vì nhớ đến một người…
    Đã có bao giờ, bạn ngồi một mình trong phòng lúc nửa đêm, tắt hết đèn, uống café và nghe nhạc không lời . . . 

  Đã từng, chắc chắn bạn đã từng thức thật khuya để tận hưởng cuộc sống ban đêm vắng lặng, chỉ mỗi bạn với biết bao dòng suy nghĩ miên man, nhớ một người ở phương xa đến nao lòng, có thể gọi điện thoại hay nhắn tin cho người đó nhưng lại ...không thể, vì một lý do "không thể gọi tên'' nào đó, chạnh lòng và muốn quên đi, muốn khóc thật nhiều, thật nhiều để ngày mai bắt đầu một ngày mới không có những nỗi nhớ da diết và tập trung vào mọi việc mình làm.... phải chi nỗi nhớ cũng như mưa bong bóng, nhẹ rớt xuống vỡ ra rồi tan đi thì người ta sẽ cảm thấy nhẹ nhõm hơn nhiều... Người ta bảo cũng đúng thật, có lẻ chỉ một phút phải lòng nhau, một ngày yêu nhau nhưng phải mất cả đời để quên nhau... 

Chủ Nhật, 27 tháng 3, 2011

Windows XP sp2 va sp3 tự nhận driver + tích hợp SATA cho laptop





Mô tả:Hiện nay rất nhiều máy tính (laptop nói riêng và PC nói chung) xảy ra tình trạng khi boot từ CD-ROM xảy ra tình trạng không nhìn thấy ổ cứng (HDD) trong khi boot.
Nếu cài win bằng đĩa thông thường sẽ bị báo lỗi màn hình xanh, nguyên nhân do cái main nó tích hợp thêm cầu nam ICH để có thể đọc dư liệu các ổ cứng dung lượng lớn theo chuẩn sata tốc độ cao mà đĩa win xp thương ko tích hợp driver sata do chuẩn sata ra sau win xp nên khi boot đĩa ko thấy vào báo lỗi.Nên đòi hỏi bộ cài windows tích hợp driver Sata để nhận dạng được ổ cứng SATA trong khi boot.
Qua tham khảo nhiều nơi cộng thêm kinh nghiệm về máy tính,mình đã làm ra bản Win xp2 tích hợp driver Sata cả chipset AMD và Intel.Chia sẻ cùng anh em :

Đây là bản sp2 nguyên gốc, không thay đổi gì ngoài việc tích hợp SATA driver.. Chạy chưa thấy lỗi gì, rất nhanh.
Gồm8 part, dung lượng gần 600 mb.
Khi các bạn down về thì dùng hjsplit để nối nó lại.



CD key : V2C47-MK7JD-3R89F-D2KXW-VPK3J





 

*Hiện nay nhiều khách hàng khó tính ko thix ghost buộc bạn phải cài đặt cho họ xem, và nhiều loại main hiện nay ko cho sử dụng hidrenboot thì đây có thể xem như là 1 giải pháp chữa cháy tạm thời ^^:

THÀNH PHẦN PHIÊN BẢN (1)NÀY GỒM:
1.SOURCE CÀI WIN XPSP3
2.BỘ DRIVER CỦA YLMF
3.AUTOIT
4.ĐƯỢC TÍCH HỢP THÊM SATA/RAID CỦA NHIỀU LOẠI MAIN KHÁC NHAU
5. CHỈNH SỮA 1 CHÚT REGISTRY TRONG LÚC COPY SOURCE CÀI ĐẶT ĐỂ TỐI ƯU HÓA HỆ THỐNG

KHI ĐANG CÀI WIN SẼ DỪNG HỆ THỐNG LẠI Ở PHÚT THỨ 39( BÊN CHINA CÒN GỌI LÀ BẢN WIN T39) ĐỂ TIẾN HÀNH GIẢI NÉN VÀ CÀI DRIVER

BẢN WIN NÀY KO CÀI THÊM BẤT CỨ CHƯƠNG TRÌNH ỨNG DỤNG NÀO CẢ CHỈ 1 NỀN WINDOW CHUẨN. BẢN NÀY HƠI PHIỀN 1 CHÚT LÀ BẠN PHẢI TỰ ĐẶT TÊN CHO HỆ ĐIỀU HÀNH CỦA MÌNH


 ( VÌ NHIỀU NGƯỜI HOẶC KHÁCH HÀNG KHI CÀI MÁY CHO HỌ THÌ HỌ LUÔN MUỐN TÊN NGƯỜI SỬ DỤNG LÀ TÊN CỦA HỌ NÊN PHẦN ĐẶT TÊN MÌNH KO TỰ ĐỘNG , DO ĐÓ BẠN CÓ THỂ TÙY Ý TÊN NGƯỜI SỬ DỤNG )




*LINK NỐI FILE :http://www.box.net/shared/8oase2p0e3 (ffsj.exe )
*LINK BỘ WIN CÀI: GỒM 7 PHẦN
http://www.mediafire.com/file/31gm5qyqjxy/xp.iso.001
http://www.mediafire.com/file/g1cqj3gzn42/xp.iso.002
http://www.mediafire.com/file/aw9j2zti4je/xp.iso.003
http://www.mediafire.com/file/iryxzty0oy0/xp.iso.004
http://www.mediafire.com/file/mtdnjtx9dlz/xp.iso.005
http://www.mediafire.com/file/pxzjrkfo07t/xp.iso.006
http://www.mediafire.com/file/m4kz2jdmnax/xp.iso.007
ĐÃ HOÀN TẤT

MÌNH chỉ MỚI TEST DUOC VÀI MAIN: LANPARTY NF4(BAT AHCI LEN CAI), GIGABY(BAT AHCI LEN CAI), MIAN DOI CŨ P4 865GV , ... BẢN NÀY NHẬN DRIVER THÔNG MINH HƠN, NHƯNG VÌ LÀ PHIÊN BẢN ĐẦU TAY NÊN CÓ THỂ BỘ DRIVER CHƯA ĐẦY ĐỦ LẮM NHƯNG CŨNG KHÁ NHỎ GỌN VÀ CÓ THỂ MINHON HƠN SO VỚI KHI BẠN SỬ DỤNG DPs_BASE_810rc3.exe( LÚC ĐÂU MÌNH CŨNG ĐÃ TẠO DUOC BẢN WIN = DPs_BASE_810rc3.exe KHI TAO XONG DUNG LUONG LÊN ĐẾN > 1GB VÀ CÀI KHÁ LÀ LÂU)

*** để bản setup win xp hoàn thiện hơn về bộ driver thì bạn có thể vào bài viết Hướng dẫn làm GHOST đa cấu hình tự nhận Driver do phuonggvgp cung cấp cho mọi người ở mục sử dụng hệ điều hành 
đổi toàn bộ source driver.7z trong thư mục $OEM$\$1\driver ----chuc bạn thanh cong ^^

*****LƯU Ý:
1) KHI BẠN CÀI WIN = AHCI NẾU XẢY RA TÌNH TRẠNG DUMP MÁY THÌ CÓ LẼ KO ĐÚNG VỚI DRIVER SATA/RAID , KHI ĐÓ BẠN HÃY CHUYỂN VỀ IDE CÀI ĐẶT BÌNH THƯỜNG
2) nếu xảy xa lỗi trong quá trình cài đặt thì bạn hãy xóa đi file Tweak.reg nằm trong thư mục $OEM$\Tweak.reg ( nhiều khi tối ưu hóa nhiều quá cũng có thể gây ko tương thích cho máy của bạn dẫn đến tình trạng treo máy)


*Bản windows này được mình làm từ bản gốc vẫn còn nguyên IE6 và Windows Media 9, vì mình thấy ai cần thì up nó lên chẳng gì khó khăn.

Driver Sata tích hợp 2 dòng Main Intel và AMD chính xác là :

- Của Intel



Code:

"Intel Matrix Storage Manager Driver"
"Intel RAID Controller"
"Intel(R) ESB2 SATA RAID Controller"
"Intel(R) ICH7R/DH SATA RAID Controller"
"Intel(R) ICH7MDH SATA RAID Controller"
"Intel(R) ICH8R/ICH9R/ICH10R/DO/PCH SATA RAID Controller"
"Intel(R) ICH8M-E/ICH9M-E/PCHM SATA RAID Controller"


- AMD



Code:

AMD SATA AHCI Controller


Mình đã test trên nhiều dòng máy khác nhau. Và điều đặc biệt là bản này là Volume License (Không cần Active) và dùng được nhiều CDKey chung.

Bạn có thể dùng 1 trong những CDKey đã được chia sẽ trên net





 

CDKEY : K2KB2 - BDBGV - KP686 - D8T7X - HDMQ8
DHXQ2-WRGCD-WGYJY-HHYDH-KKX9B
D36RK-QDFFD-BTWWY-BT7KK-43MGM
W9VCJ-74DXW-JDDBV-PW777-WXD2T
B77QF-DP27W-4H68R-72B48-78RPD
THMPV-77D6F-94376-8HGKG-VRDRQ
CFDYK-FFHH7-QW3HM-JGRQX-KM77T
P4XK3-TGQ3P-F9JB2-GC6XQ-VXTMW
HWDFJ-WPTTQ-D2R7C-PBP3Y-B4G7M



 

* Windows XP Sp2 và Sp3 Ghost All main - tích hợp driver Sata cho cả Laptop

File Ghost tích hợp thêm Office 2003 -vietkey 2000 Full , Foxit reader , Có sẵn driver SATA ,dùng được cho cả máy bàn lẫn máy xách tay dùng Hdd SATA kể cả các dòng máy mới nhất bây giờ.

Dung lượng 615MB - Win Xp Pro Sp3



Code:

http://rapidshare.com/files/128935460/WINXP3AK.GHO.001
http://rapidshare.com/files/129130878/WINXP3AK.GHO.002
http://rapidshare.com/files/129135740/WINXP3AK.GHO.003
http://rapidshare.com/files/129141255/WINXP3AK.GHO.004
http://rapidshare.com/files/129148038/WINXP3AK.GHO.005
http://rapidshare.com/files/129153605/WINXP3AK.GHO.006
http://rapidshare.com/files/129158428/WINXP3AK.GHO.007
http://rapidshare.com/files/129163422/WINXP3AK.GHO.008

hoặc

http://www.mediafire.com/?zxrym21v61x
http://www.mediafire.com/?gdkaveqm2bt
http://www.mediafire.com/?dbj1omkymlj
http://www.mediafire.com/?twwrsdzt4oy
http://www.mediafire.com/?yzxjgmizw9h
http://www.mediafire.com/?ydy2ldcdrry
http://www.mediafire.com/?zgdytyplz5m
http://www.mediafire.com/?z1nxedflpry

Pass file Ghost : akt11780


Link khác tạo sẵn thành file Iso - boot trực tiếp vào chương trình Ghost - Phiên bản Sp2 đã update lên Sp3 - bác nào dùng phần mềm ko chạy dc trên Sp3 thì gỡ Sp3 ra và nhớ cho đĩa Xpsp2 vào nhé vì mình đã xóa backup của Sp2 - Đã chỉnh sửa cho thích hợp nhiều main hơn



Code:

http://rapidshare.com/files/132761124/GhostSaTa.part1.rar
http://rapidshare.com/files/132764645/GhostSaTa.part2.rar
http://rapidshare.com/files/132773933/GhostSaTa.part3.rar
http://rapidshare.com/files/132778558/GhostSaTa.part4.rar
http://rapidshare.com/files/132783495/GhostSaTa.part5.rar
http://rapidshare.com/files/132785482/GhostSaTa.part6.rar

hoặc

http://www.mediafire.com/?axf1wcdn0dd
http://www.mediafire.com/?43kxqslkjxm
http://www.mediafire.com/?luuba2k2dc9
http://www.mediafire.com/?1bjingbmjgw
http://www.mediafire.com/?hlwb3kwgk2n
http://www.mediafire.com/?ytbunzzynr9

Pass : akt280107



Thứ Sáu, 25 tháng 3, 2011

Cách làm mạch in bằng tay full





Hiện nay trong giới sinh viên và làm nghề có rất nhiều cách vẽ để tạo mạch in đẹp, riêng cách này do mình nghĩ ra cách nay khoảng 20 năm rồi, mà hiện nay chưa thấy forum nào làm giống mình, nên mình đăng ký bản quyền công nghệ ở VNAV này, lâu rồi, mình không có nhu cầu vẽ kỹ nghệ họa nên không quan tâm đến loại ngòi bút này hiện đã có bán chưa, nhưng mình nghĩ, đã có máu DIY thì chế ngòi bút bằng kim tiêm cũng ok lắm, tỷ lệ pha sơn móng tay thì các bạn cứ làm thực nghiệm đi, mình cũng chỉ pha nhắm chừng thôi, nếu mực không xuống thì pha loãng thêm, nếu mực xuống nhiều thì pha đặc lại, tiện đây, mình cũng nêu ra một số cách tạo mạch in đang làm phổ biến hiện nay:


- In lụa.
- Vẽ tay bằng bút lông.
- Vẽ tay bằng cọ sơn.
- Chụp tia cực tím bằng chất cảm quang.
- In vi tính mực laser trên giấy láng, rồi ủi nóng lên mạch in cho mực từ giấy dính qua bản đồng, rửa bằng nước cho giấy tróc ra còn mực ở lại. cách này hiện nay đang phổ biến trong giới sinh viên, vài lời đóng góp cho phong trào DIY VN tiến mạnh.Em thì có cách làm như sau, đảm bảo tuyệt hảo luôn mà lại rất dễ. Không cần bút đặc chủng mà cũng chẳng cần phải đi thuê cắt decan:

...Đến và đi....

Tôi vẫn nghe đời gọi tình yêu là duyên và nợ. Bật cười, duyên hay nợ? Nếu gọi yêu nhau là "duyên số" thì số phận đã đặt vào tay, vậy là tự nhiên có mà không cần vun vén sao? Nếu gọi yêu nhau là "nợ" thì tình yêu cốt lõi cũng chỉ là chi trả chứ không còn là cảm xúc. Ví von thế, để làm gì?

Tôi yêu em, không phải do duyên số, em tìm đến và tôi tìm đến. Mình đến bên nhau như lẽ tự nhiên của hai trái tim không ràng buộc. Em tháo từng mối chỉ kỷ niệm cho tôi yên bình. Đủ chưa?

 

 

 

Tôi vẫn nghe đời chia tình yêu thành những giai đoạn riêng rẽ. Khi say, khi cuồng, khi bình ổn và khi chán ngán nhau và rồi sẽ có khi tình yêu hóa thành cái nghĩa yêu đương để giữ tay nhau không rời. Mình đã qua khi say, khi cuồng chưa em? Để khi cảm thấy bản thân cứ nhàn nhạt và nỗi lo sợ sự bay nhảy kéo phăng ta ra khỏi nhau.

 Tôi vẫn nghe đời giáo huấn về sự thủy chung và tin tưởng. Có người bước đến bên em, nói rằng yêu em, thế thì đã sao? Có người bước đến bên tôi, nói rằng yêu tôi, thế thì đã sao? Tôi không thử, vì vốn tình yêu không dành cho phép thử. Sự đáng trân trọng của mỗi con người là biết con đường mình đang đi, và biết trái tim đa tình chẳng dễ tìm được bến đỗ. Tự tìm cho mình chút hào nhoáng phút chốc của một kẻ có sức hút để trọn đời nay đây mai đó. Em ạ, tôi không phải kẻ tham lam dại dột.

 Khi một người tiến đến, tôi biết lùi lại, em biết không, vì tôi hiểu tôi cần em hơn một vòng tay thật thoáng qua những lúc này. Khoảng cách, chỉ là cái cớ cho thay đổi. Tôi, không phải vậy.

 Tôi vẫn nghe đời huyên thuyên về sự chia ly, cái giá của nhàm chán và giả dối. Đọng lại trong tôi suốt những tháng năm biết yêu thương là tình yêu đong đầy từng giây phút trôi qua. Để còn lại trong mình không phải sự cũ rích mà là vững chắc. Tôi không khám phá một con người mà hiểu về người ấy. Để hiểu em, tôi học dần sự thứ tha và chấp nhận. Sự lắng nghe và cố gắng. Thuyết giáo "Nhàm chán" trong tình yêu không dành cho tôi. Ai có thể hiểu hết một người để tự cho mình quyền chán họ?

 Em ạ! Tôi vốn là một kẻ đầy khiếm khuyết nhưng tôi tin mình đủ tự trọng để biết sống hết mình vì em. Cái nhạt và cái thay đổi chính bản thân vì sợ nhàm chán không phải điều để hâm nóng tình yêu. Tôi cần một người yêu mở lòng cho tôi, để tôi được ân cần, để tôi được yêu chính người đó. Tôi không cần một chú tắc kè biết thay nhiều lớp áo. Hiểu tôi không?

 

Tôi vẫn nghe đời rả rích những thay lòng và giọt nước mắt của kẻ đến người đi. Tình yêu không phải điều bất biến. Hôm nay, em yêu tôi, ngày mai, chắc gì đã thế? Chẳng phải người ta yêu đương đủ để cưới nhau, và rồi khi tình yêu đã cạn, người ta lại dắt nhau ra tòa để chia tay? Tình yêu, vốn chẳng phải sợi xiềng sợi xích để trói đời ta vào với nhau. Cầm lên được, ắt sẽ bỏ xuống được. Ai chẳng khóc khi tình yêu rời xa mình, nhưng, ai sẽ thay lòng và ai sẽ bước đi khi tình yêu chưa tì vết? Những giữ gìn, những cố gắng há chẳng phải để trái tim sẽ thuộc về nhau thêm một ngày. Và thêm một ngày... thế chẳng phải sẽ là "mãi mãi" sao?

Buông ra thì dễ. Người ta cứ đến và đi trong đời nhau, để chọn lựa? Khi đến bên nhau, không phải là chọn lựa? Tôi không ép buộc em yêu tôi, em cũng không bắt tôi thề thốt tiếng yêu đương. Mình đã chọn được bên nhau. Tình yêu vốn không phải điều chia sẻ được, để quơ tay cho mình có nhiều chọn lựa... vì... tình yêu khi đã bước đi, không thể quay lại nếu nhận ra chọn lựa thứ hai của mình là sai lầm. Tôi đã nói yêu em, và đó là lựa chọn cuối cùng của tôi. Tôi không suy xét xem người con gái khác có yêu tôi nhiều hơn em không, tôi không hỏi xem người con gái ấy có khơi gợi trong tôi cảm xúc hay không? Bởi vì, quan trọng nhất vẫn là, tôi yêu em.

 

Ừ... là em đấy.
Và...  này, em có yêu tôi không?

Ngân hàng câu hỏi phỏng vấn ứng viên

Đây là những câu hỏi phỏng vấn thông dụng nhất. Đối với ứng viên, các câu hỏi nhà tuyển dụng đặt ra trong quá trình phỏng vấn, bạn nên trả lời súc tích và chân thành, không nên đánh giá thấp thành công của mình và ngược lại, không phóng đại công việc bạn đã hoàn thành. Về phía nhà tuyển dụng, không nhất thiết phải tạo khuôn đáp án để đánh giá ứng viên. Sự linh hoạt, tinh tế cảm nhận qua câu trả lời và kết hợp với thái độ, cử chỉ ứng viên sẽ giúp nhà tuyển dụng đánh giá chính xác ứng viên hơn.

1. Bạn hãy giới thiệu về mình?


2. Thất bại lớn nhất mà bạn đã trải qua?


3. Gia đình của bạn có những ai?


4. Bạn là con thứ mấy trong gia đình?


5. Kể về kỷ niệm lần đầu tiên bạn kiếm được tiền?


6. Ước mơ của bạn là gì?


7. Điểm mạnh của bạn?


8. Điểm yếu nhất của bạn là gì?


9. Bạn có lý tưởng sống không?


10. Điều gì là quan trọng nhất với bạn?


11. Nếu được ví mình như một loài hoa thì bạn sẽ là hoa gì?


12. Con vật nào bạn thích nhất?


13. Con vật nào bạn ghét nhất?


14. Nếu trở thành một con vật, bạn muốn trở thành con vật gì?


15. Cuốn sách bạn đọc gần đây nhất là cuốn nào?


16. Khi ra quyết định, bạn thường tham khảo ý kiến của ai?


17. Thần tượng của bạn là ai?


18. Trong gia đình ai là người ảnh hưởng đến bạn nhiều nhất?


19. Hãy nói về quê hương bạn?


20. Bạn thường đọc sách gì?


21. Bạn bè của bạn là những người như thế nào?


22. Sở thích của bạn?


23. Kể ra 5 thói quen tốt của bạn?


24. Kể ra 3 đặc điểm mọi người hay chê bạn?


25. Hồi còn đi học, môn nào bạn học kém nhất? Vì sao?


26. Bạn đã từng làm việc ở những công ty nào?


27. Vì sao bạn lại bạn lại định bỏ chỗ làm hiện nay?


28. Tại sao bạn lại thay đổi nhiều nơi làm việc như vậy?


29. Bạn nhận xét như thế nào về đồng nghiệp của bạn?


30. Điều gì làm bạn thất vọng nhất?


31. Đồng nghiệp của bạn nhận xét như thế nào về bạn?


32. Đặc điểm nào ở bạn mà mọi người không thích khi tiếp xúc với bạn?


33. Sếp cũ của bạn có thích bạn không?


34. Điều nuối tiếc nhất mà bạn chưa làm được cho sếp của bạn?


35. Điều bạn còn trăn trở chưa làm được là gì?


36. Bạn nghĩ gì về những người sếp trước đây?


37. Bạn đã bao giờ bị buộc phải nghỉ việc?


38. Hãy kể về một số thành tích nổi trội của bạn trong công việc?


39. Nếu chỉ được lựa chọn giữa gia đình và công việc bạn sẽ chọn gì?


40. Bạn biết đến công ty này như thế nào?


41. Bạn đã biết gì về công ty rồi?


42. Theo bạn tại sao công ty này lại thành công?


43. Công ty này có gì chưa ổn không?


44. Tại sao bạn muốn làm việc ở đây?


45. Công ty tôi đã có gì hấp dẫn bạn chăng?


46. Bạn đã gặp những ai ở công ty này? Họ nói gì với bạn?


47. Bạn đã được đào tạo những gì về lĩnh vực này?


48. Bạn có kinh nghiệm gì trong lĩnh vực này rồi?


49. Bạn có đặt mục tiêu cho buổi phỏng vấn này?


50. Bạn hãy cho biết kế hoạch công việc nếu bạn trúng tuyển?


51. Đâu sẽ là khó khăn cản trở bạn trong công việc này?


52. Khi làm việc nhóm bạn thường đảm nhận vị trí nào, trưởng nhóm hay thành viên?


53. Trong nhóm làm việc, mọi người đánh giá năng lực của bạn như thế nào?


54. Bạn thường không thích làm việc với những người như thế nào?


55. Bạn cần thời gian bao lâu để thích nghi với công việc?


56. Đây có phải là nghề mà bạn thực sự mong muốn và quyết tâm theo đuổi?


57. Bạn có thích tính kỷ luật không? Vì sao?


58. Bạn đề cao yếu tố nào nhất trong công việc: kỷ luật, trung thực, tự do?


59. Bạn thích làm việc trong môi trường kỷ luật về giờ giấc hay tự do thời gian?


60. Bạn có ngại phải đi công tác xa nhà?


61. Theo bạn ai là người trả lương cho bạn?


62. Mức lương như thế nào thì bạn có thể làm việc?


63. Mức thu nhập như thế nào đủ để bạn trang trải cuộc sống và yên tâm công tác?


64. Ngoài xin việc ở đây bạn còn đang nộp hồ sơ ở những nơi nào?


65. Những điều gì khiến bạn lo lắng khi bắt đầu công việc?


66. Bạn muốn làm việc ở đây bao lâu nếu bạn được tuyển dụng?


67. Bạn có khả năng làm việc trong môi trường căng thẳng, áp lực?


68. Theo bạn công việc hiện nay đòi hỏi những kỹ năng nào?


69. Làm thế nào để tôi đánh giá bạn làm việc hiệu quả đây?


70. Những yếu tố nào sẽ giúp bạn làm việc tốt nhất?


71. Bạn có sẵn sàng làm ngoài giờ?


72. Bạn có khả năng làm việc vào ban đêm không?


73. Trong trường hợp đột xuất phải làm việc vào ngày nghỉ, bạn có đồng ý không?


74. Khi rời khỏi công ty bạn bàn giao như thế nào?


75. Theo bạn cá nhân phải tôn trọng tập thể hay tập thể phải vì cá nhân?


76. Bạn có nghĩ rằng công việc này sẽ phù hợp với bạn?


77. Bạn có kế hoạch gì để nâng cao chuyên môn?


78. Bạn tưởng tượng như thế nào về môi trường làm việc ở đây?


79. Bạn muốn có một người sếp như thế nào?


80. Bạn có khả năng đặt mục tiêu và thực hiện mục tiêu?


81. Triết lý của bạn trong công việc?


82. Tại sao tôi phải nhận bạn vào làm việc?


83. Các nguyên tắc của bạn trong công việc là gì?


84. Điều gì làm bạn mất tập trung trong công việc?


85. Bạn có dám đối mặt với những thử thách, khó khăn?


86. Công việc lý tưởng của bạn là như thế nào?


87. Mục tiêu dài hạn và ngắn hạn của bạn là gì?


88. Bạn đánh giá như thế nào về khả năng giao tiếp ứng xử của bản thân?


89. Bạn có khả năng nói trước công chúng?


90. Khó khăn của bạn khi trình bày trước mọi người?


91. Bạn đã thuyết phục được bao nhiêu người làm theo bạn?


92. Bạn có khả năng lãnh đạo không?


93. Hãy kể về công việc do bạn làm lãnh đạo?


94. Hãy kể về một tình huống khó khăn nhất và cách giải quyết của bạn?


95. Bạn biết gì về kế hoạch của công ty trong năm nay?


96. Bạn có câu hỏi nào dành cho tôi không?


97. Khi nào thì bạn có thể bắt đầu công việc?


98. Điều kiện làm việc như thế nào sẽ phù hợp với bạn?


99. Nếu bạn có đủ tiền bạc, ai đó khuyên bạn nên nghỉ sớm, bạn có đồng ý không?


100. Bạn nghĩ sao nếu bạn thất bại trong buổi phỏng vấn này?


101. Theo bạn trong cuộc phỏng vấn hôm nay tỷ lệ thành công của bạn là bao nhiêu?

Thứ Năm, 24 tháng 3, 2011

10 tỉ phú công nghệ giàu nhất nước Mĩ năm 2010

Forbes 400 là danh sách uy tín nhất thế giới của tạp chí Forbes liệt kê ra 400 người giàu nhất nước Mĩ dựa trên giá trị tài sản ròng. Năm nay, tạp chí Forbes đã chọn ra trong danh sách Forbes 400 10 tỉ phú công nghệ giàu nhất thế giới.

Theo thống kê của Forbes thì tổng giá trị tài sản của 10 tỉ phú công nghệ giàu nhất năm nay đã tăng 13,6 tỉ so với năm 2009. Trong đó, người có giá trị tài sản tăng nhiều nhất là người sáng lập và đồng thời CEO của mạng xã hội Facebook Mark Zuckerberg.

Danh sách 10 tỉ phú công nghệ xếp hạng theo giá trị tài sản ròng lần lượt như sau:

1. Bill Gates





 

Tài sản ròng: 54 tỉ đô la

Là người giàu nhất nước Mĩ (theo danh sách Forbes 400) và đứng thứ 2 thế giới năm 2010, Bill Gates đương nhiên trở thành người đứng đầu trong danh sách 10 tỉ phú giàu nhất nước Mĩ năm nay. Trong năm 2010, tài sản của Bill Gates đã tăng 4 tỉ đô la so với năm trước. Năm nay, tài sản của Bill Gates có được nhờ tập đoàn Microsoft là 16 tỉ đô. So với năm 2009 thì cổ phiếu của Microsoft gần như không tăng mặc dù với doanh số bán ra tăng lên không ngừng của HĐH Windows 7. Hiện tại, Bill Gates hông còn tham gia vào công việc hằng ngày ở Microsoft nữa mà dành thời gian cho công việc điều hành quỹ từ thiện Bill & Melinda Gates Foundation cùng với vợ của ông.

2. Larry Ellison





 

Tài sản ròng: 27 tỉ đô

Theo thống kê mới nhất của Forbes, kể từ thời điểm tiến hành thống kê Forbes 400 (ngày 25/08/2010) đến 20/09/2010, tài sản ròng của Larry Ellison - đồng sáng lập và CEO của Oracle đã tăng 23% lên đến 27.49 tỉ đô nhờ doanh thu lớn trong quý 2 và việc Oracle đã mời cựu CEO của HP Mark Hurd về làm đồng chủ tịch.

3. Sergey Brin





 

Tài sản ròng: 15 tỉ đô

Vị trí thứ 3 năm nay thuộc về đồng sáng lập tập đoàn Google Sergey Brin. So với năm trước, tổng tài sản ròng của anh giảm 300 triệu đô. Google đã đánh mất thị phần của mình cho công cụ tìm kiếm Bing của Microsoft. Trong khi đó thì các nhà sản xuất điện thoại lại gia tăng việc sử dụng hệ điều hành nguồn mở miễn phí Android vào smartphone của họ.

4. Larry Page





 

Tài sản ròng: 15 tỉ đô

Cùng đứng ở vị trí thứ 3 năm nay và có giá trị tài ròng bằng với người bạn của mình là đồng sáng lập Google Larry Page. Tương tự như Sergey Brin, tài sản năm nay của Larry Page cũng giảm 300 triệu đô so với năm trước. Giống như nhiều vị chủ tịch và CEO khác trong lịch sử, Larry Page đã tự trả lương cho chính mình 1 đô la/1 năm. Larry Page cũng từng là nhà đầu tư vào hãng xe điện Tesla Motors.

5. Michael Dell





 

Tài sản ròng: 14 tỉ đô

Tiếp theo trong danh sách là người sáng lập và CEO của hãng máy tính Dell Michael Dell. Tuy nhiên, phần lớn tài sản của ông năm nay là nhờ vào công ti đầu tư gồm 80 nhân viên chuyên quản lí tài sản của Michael Dell cùng gia đình. Tài sản của Michael Dell sụt giảm 500 triệu đô so với năm trước và cổ phiếu của hãng máy tính Dell cũng giảm 29% so với năm 2009.

6. Steve Ballmer





 

Tài sản ròng: 13,1 tỉ đô

Năm nay, với thành công của HĐH Windows 7 và thất bại của dòng điện thoại Kin, tài sản của CEO Microsoft Steve Ballmer đã sụt giảm 200 triệu đô so với năm 2009.

7. Paul Allen





 

Tài sản ròng: 12,7 tỉ đô

Paul Allen là người đồng sáng lập của tập đoàn Microsoft và rời khỏi Microsoft từ năm 1983. Công ti do ông sở hữu tập đoàn Vulcan chuyên đầu tư vào các lĩnh vực liên quan đến du hành trong không gian và trí tuệ nhân tạo. Mới đây, Paul Allen đã khởi kiện 11 công ti công nghệ buộc tội họ vi phạm nhiều bằng sáng chế. Tài sản ròng năm nay của ông tăng 1,2 tỉ so với năm 2009.

8. Jeff Bezos





 

Tài sản ròng: 12,6 tỉ đô

Với mức tăng trưởng bất ngờ 30% giá trị cổ phiếu của Amazon trong năm qua, giá trị tài sản của Jeff Bezos - chủ tịch đồng thời là CEO của Amazon đã tăng 3,8 tỉ đô so với trước đó 12 tháng. Hiện ông vẫn còn 90% giá trị tài sản ròng từ cổ phiếu của Amazon trong khi đã bán một lượng cổ phiếu 400 triệu đô từ tháng 1 năm 2010.

9. Mark Zuckerberg





 

Tài sản ròng: 6,9 tỉ đô

Bằng việc tăng trưởng bất ngờ của mạng xã hội Facebook, giá trị tài sản của người sáng lập Facebook đã tăng lên gấp 3 so với năm trước và vượt qua CEO Steve Jobs của Apple. Hiện tại Facebook vẫn là công ty tư nhân với tổng giá trị ước tính là 23 tỉ đô.

10. Steve Jobs





 

Tài sản ròng: 6,1 tỉ đô

Đứng cuối cùng trong danh sách năm nay là CEO của Apple Steve Jobs. Với thành công tưởng chừng không thể dừng được của Apple nhờ các sản phẩm iPhone, iPad thì giá trị vốn hóa thị trường của Apple đã vượt qua Microsoft. Tuy nhiên, phần lớn tài sản của Steve Jobs có được trong năm nay là nhờ giá trị cổ phiếu 4,4 tỉ đô từ Disney. Giá trị tài sản ròng năm 2010 của Steve Jobs tăng 1 tỉ đô so với năm trước.

Theo Forbes

Chủ Nhật, 20 tháng 3, 2011

TÌNH YÊU - HẠNH PHÚC - NIỀM TIN - HY VỌNG

   Ai đã đem đến cho tôi một Tình Yêu ?

      Ai đã đem đến cho tôi môt Hạnh Phúc ?

  Ai đã đem đến cho tôi một Niềm Tin ?

  Ai đã đem đến cho tôi một Hy Vọng ?

 
Photobucket

 


Bốn câu hỏi muôn thủa của đời người
Người trả lời không dễ gì tìm được
TÌNH YÊU vốn mong manh, ta cầu đâu có được...?
Chỉ trông vào sự rung động của con tim 



Hai chữ HẠNH PHÚC ối kẻ đi tìm
Mỏi gối chồn chân nào đâu có thấy 
Chẳng phải tìm  đâu , một điều đơn giản vậy 
Hạnh phúc luôn ngự ở trong ta !



Còn NIỀM TIN ư trong suốt cuộc đời
Người thiếu niềm tin thì chẳng còn gì nữa! 
Trong cõi bể dâu, dù mưa sa nắng lửa 
Sau cơn mưa óng ánh sắc cầu vồng 



Ta đứng thẳng người bất chấp bão giông
Và cất cao lên bài ca HY VỌNG.


Photobucket


Thứ Sáu, 18 tháng 3, 2011

Lý thuyết và nguồn gốc về mang GSM

I. Lịch sử hình thành:

 

1982-1985: Conférence Européennedes Postes et Télécommunications (CEPT-Hiệp Hội Bưu Chính Viễn Thông Châu Âu) bắt đầu đưa ra chuẩn viễn thông tin kỷ thỵât số Châu Âu tại băng tần 900MHz, tên là GSM (Global System for Mobile communication). 

1986: CEPT lập nhiều vùng thử nghiệm tại Paris để lựa chọn công nghệ truyền phát. Cuối cùng kỹ thuật Đa Thu Nhập Phân Chia Theo Thời Gian (TDMA-Time Division Multiple Access) và Đa Thu Nhập Phân Chia Theo Tần Số (FDMA-Frequency Division Multiple Access) đã được lựa chọn lựa.

1986: Hai kỷ thuật trên đã được kết hợp để tạo nên công nghệ phát cho GSM. Các nhà khai thác của 12 nước Châu Âu đã cùng ký bản ghi nhớ Memorandum of Understanding (MoU) quyết tâm giới thiệu GSM vào năn 1991.

1988: CEPT bắt đầu xây dựng đặc tả GSM cho giai đoạn hiện thực. Thêm 5 nước gia nhập MoU.

1989: Viện tiêu chuẩn viễn thông Châu Âu (ETSI-European Telecom-munication Standards Institude) nhận trách nhiệm phát triển đặc tả GSM.

1990: Đặc tả giai đoạn 1 đã được đưa cho các nhà sản xuất phá triển thiết bị mạng.

1991: Chuẩn GSM 1800 đã được công bố. Thống nhất cho phép các nước ngoài CEPT đựơc quyền tham gia bản MoU.

1992: Đặc tả giai đoạn 1 hoàn tất. Mạng GSM giai đoạn 1 thương mại đầu tiên được công bố. Thỏa thuận chuyển vùng (roaming) quốc tế đầu tiên giữa Telecom Finland và Vodafone (Anh) được ký kết.

1993: Úc là nước đầu tiên ngoài CEPT ký MoU. MoU đã được 70 nước tham gia. Mạng GSM được công bố tại Áo, Ai-xơ-len, Hồng Kông, Na Uy và Úc. Thuê bao GMS lên đến hàng triệu. Hệ thống DCS 1800 thương mại đầu tiên được công bố tại Anh.

1994: MoU có hơn 100 tổ chức tham gia, tại 60 nước. Nhiều mạng GMS ra đời. Tổng số thuê bao lên 3 triệu.

1995: Đặc tả cho Dịch Vụ Liên Lạc Cá Nhân (PCS-Personal communications Service) được phát triển tại Mỹ, đây là một phiên bản GSM hoạt động trên tần số 1900MHz. GSM tiếp tục phát triển nhanh.

1995: Thuê bao GSM tăng 10.000 mỗi ngày.

4/1995: MoU có 188 thành viên trên 69 quốc gia. Hệ thống GSM 1900 có hiệu lực, tuân theo chuẩn PCS 1900.

1998: MoU có 253 thành viên trên 100 nước và có trên 70 triệu thuê bao trên toàn cầu, chiếm 31% thị trường di động thế giới.

6/2002: Hiệp hội GSM có 600 thành viên, đạt 709 triệu thuê bao (chiếm 71% thị trường di động số) trên 173 quốc gia. 

II. Đặc tả GSM

GSM được thiết kế độc lập với hệ thống nên hoàn toàn không phụ thuộc vào phần cứng, mà chỉ tập trung vào chức năng và ngôn ngữ giao tiếp của hệ thống. Điều này tạo điều kiện cho người thiết kế phần cứng sáng tạo thêm tính năng và cho
Phép công ty vận hành mạng mua thiết bị từ nhiều hãng khác nhau.
Bản đặc tả gồm có 12 mục, mỗi mục do một nhóm chuyên gia và công ty riêng biệt phụ trách viết. ESTI giữ vai trò điều phối chung. GSM 1800 được xem là một phần phụ lục, nó chỉ đề cập đến sự khác nhau giữa GSM 900 và GSM 1800. GSM 1900 được viết dựa trên GSM 1800 nhưng có thay đổi cho phù hợp với chuẩn ANSI (American National Standards Institude) của Mỹ.

III. Kiến trúc mạng GSM


1. Thành phần:

Mạng GSM được chia thành 2 hệ thống: hệ thống chuyển mạch (switching system) và hệ thống trạm phát (base station system). Mỗi hệ thống được xây dựng trên nhiều thiết bị chuyên dụng khác nhau. Ngoài ra, giống như các mạng liên lạc khác, GSM cũng được vận hành, bảo trì và quản lý bởi các trung tâm máy tính.

Hệ thống chuyển mạch chuyên xử lý cuộc gọi và các công việc liên quan đến thuê bao. BSS xử lý công việc liên quan đến truyền phát sóng radio. OMC thực hiện nhiệm vụ vận hành và bảo trì mạng, như theo dõi lưu lượng cảnh báo khi cần thiết. OMC có quyền truy xuất đến cả SS và BSS.
2. Kiến thức dạng địa lý:
Với mọi mạng điện thoại, kiến trúc là nền tảng quan trọng để xây dựng qui trình kết nối cuộc thoại đến đúng đích. Với mạng di động thì điều này lại càng quan trọng: do người dùng luôn di chuyển nên kiến trúc phải có khả năng theo dõi được vị trí của thuê bao.
3. Ô (cell)
Là đơn vị cơ bản của hệ thống tế bào, được định nghĩa theo vùng phủ sóng của BTS. Mỗi ô được cấp một số định danh duy nhất gọi là CGI (Cell Global Identity). Để phủ sóng toàn quốc, người ta cần đến một số lượng rất lớn BTS. Để phủ sóng toàn bộ các tỉnh thành.
4. Vùng định vị (LA-Location Area):
Nhiều ô được ghép nhóm và gọi là một LA. Trong mạng, vị trí của thuê bao do LA khu vực của thuê bao nắm giữ. Số định danh cho LA được lưu thành thông số LAI (Location Area Identity) ứng với từng thiết bị di động (điện thoại di động) trong VLR. Khi thiết bị di chuyển sang ô của LA khác thì bắt buộc phải đăng ký lại vị trí với mạng, nếu dịch chuyển giữa các ô trong cùng một LA thì không phải thực hiện qui trình trên. Khi có cuộc gọi đến thiết bị, thông điệp được phát ra (broadcast) toàn bộ các ô của LA đang quản lý thiết bị.
5. Vùng phục vụ của MSC:
Nhiều vùng LA được quản lý bởi một MSC. Để có thể kết nối cuộc thoại đến thiết bị di động, thông tin vùng dịch vụ MSC cũng được theo dõi và lưu lại HLR.
6. Vùng phục vụ của nhà khai thác:
Vùng phục vụ của nhà khai thác bao gồm tòn bộ các ô mà công ty có thể phục vụ; nói cách khác, đây chính là toàn bộ của vùng phủ sóng của nhà khai thác mà thuê bao có thể truy nhập vào hệ thống. Mỗi nhà khai thác sẽ có thông số vùng phục vụ riêng. 
*Vùng dịch vụ GSM: Vùng dịch vụ GSM là toàn bộ vùng địa lý mà thuê bao có thể truy nhập vào mạng GSM, và sẽ càng mở rộng khi có thêm nhiều nhà khai thác ký thỏa ước hợp tác với nhau. Hiện tại thì vùng dịch vụ GSM đã phủ hàng chục quốc gia, kéo dài từ Ai-xơ-len đến Châu Úc và Nam Phi. Chuyển vùng là khả năng cho phép thuê bao truy nhập mạng của mình từ mạng khác.
Mô hình mạng di động tế bào có thể được trình bày giữa hai góc độ
7. Băng tần:
Hiện tại mạng GSM đang hoạt động trên 3 băng tần: 900, 1800, 1900MHz. Chuẩn GSM ban đầu sử dụng băng tần 900MHz, gọi là phiên bản P-GSM (Primary GSM). Để tăng dung lượng, băng tần dần mở sang 1800 và 1900MHz, gọi là phiên bản mở rộng (E-GSM).
Chính vì thế, thị trường đã xuất hiện nhiều loại điện thoại hỗ trợ nhiều băng tần nhằm tạo thuận lợi cho người dùng thường xuyêng đi nước ngoài và tận dụng được hết ưu thế chuyển vùng quốc tế của mạng GSM hiện nay.
IV. Các thủ tục cơ bản:
Thiết bị sẽ tự động thực hiện quy trình cần thiết mà không cần đến sự quan tâm hay điều khiển của người dùng.
1.Đăng nhập thiết bị vào mạng:
Khi thiết bị (điện thoại di động) ở trạng thái tắt, nó được tách ra khỏi mạng. Khi bật lên, thiết bị dò tần số GSM để tìm kênh điều khiển. Sau đó, thiết bị đo cường độ của tín hiệu từ các kênh và ghi lại. Cuối cùng thì chuyển sang kết nối với kênh có tín hiệu mạnh nhất.
2. Chuyển vùng:
Vì GSM là một chuẩn chung nên thuê bao có thể dùng điện thoại hệ GSM tại hầu hết các mạng GSM trên thế giới. Trong khi di chuyển, thiết bị liên tục dò kênh để luôn duy trì tín hiệu với trạm là mạnh nhất. Khi tìm thấy trạm có tín hiệu mạnh hơn, thiết bị sẽ tự động chuyển sang mạng mới; nếu trạm mới nằm trong LA khác, thiết bị sẽ báo cho mạng biết vị trí mới của mình.
Riêng với chế độ chuyển vùng quốc tế hoặc chuyển vùng giữa mạng của hai nhà khai thác dịch vụ khác nhau thì qúa trình cập nhật vị trí đòi hỏi phải có sự chấp thuận và hỗ trợ từ cấp nhà khai thác dịch vụ.
*Thực hiện cuộc gọi từ thiết bị di động vào điện thoại cố định:
1. Thiết bị kiểu yêu cầu một kênh báo hiệu.
2. BSC/TRC sẽ chỉ định kênh báo hiệu.
3. Thiết bị gửi yêu cầu thiết lập cuộc gọi cho MSC/VLR. Thao tác đăng ký trạng thái tích cực cho thiết bị vào VLR, xác thực, mã hóa, nhận dạng thiết bị, gửi số được gọi cho mạng, kiểm tra xem thuê bao có đăng ký dịch vụ cấm gọi ra đều được thực hiện trong bước này.
- Nếu hợp lệ, MSC/VLR báo cho BSC/TRC một kênh đang rỗi.
- MSC/VLR chuyển tiếp số được gọi cho mạng PSTN.
- Nếu máy được gọi trả lời, kết nối sẽ được thiết lập.
*Thực hiện cuộc gọi từ điện thoại cố định đến thiết bị di động:
Điểm khác biệt quan trọng so với gọi từ thiết bị di động là vị trí của thiết bị không được biết chính xác. Chính vì thế trước khi kết nối, mạng phải thực hiện công việc xác định vị trí của thiết bị di động.
1. Từ điện thọai cố định, số điện thoại di động được gửi đến mạng PSTN. Mạng sẽ phân tích, và nếu phát hiện ra từ khóa gọi ra mạng di động, mạng PSTN sẽ kết nối với trung tâm GMSC của nhà khai thác thích hợp.
2. GMSC phân tích số điện thoại di động để tìm ra vị trí đăng ký gốc trong HLR của thiết bị và cách thức nối đến MSC/VLR phục vụ.
3. HLR phân tích số điện thoại di động để tìm ra MSC/VLR đang phục vụ cho thiết bị. Nếu có đăng ký dịch vụ chuyển tiếp cuộc gọi đến, cuộc gọi sẽ được trả về GMSC với số điện thoại được yêu cầu chuyển đến.
4. HLR liên lạc với MSC/VLR đang phục vụ.
5. MSC/VLR gửi thông điệp trả lời qua HLR đến GMSC.
6. GMSC phân tích thông điệp rồi thiết lập cuộc gọi đến MSC/VLR
7. MSC/VLR biết địa chỉ LA của thiết bị nên gửi thông điệp đến BSC quản lý LA này.
8. BSC phát thông điệp ra toàn bộ các ô thuộc LA.
9. Khi nhận được thông điệp, thiết bị sẽ gửi yêu cầu ngược lại.
10. BSC cung cấp một khung thông điệp chứa thông tin.
11. Phân tích thông điệp của BSC gửi đên để tiến hành thủ tục bật trạng thái của thiết bị lên tích cực, xác nhận, mã hóa, nhận diện thiết bị.
12. MSC/VLR điều khiển BSC xác lập một kênh rỗi, đỗ chuông. Nếu thiết bị di động chấp nhận trả lời, kết nối được thiết lập.
Trong trường hợp thực hiện cuộc gọi từ thiết bị di động đến thiết bị di động, qúa trình cũng diễn ra tương tự nhưng điểm giao tiếp với mạng PSTN của điện thoại cố định sẽ được thay thế bằng MSC/VLR khác.
DROPBACK giữa hai nhà khai thác dịch vụ. Đây là một ưu điểm mà các nhà khai thác dịch vụ thường ứng dụng để tiết kiệm chi phí cho truyền phát và xử lý.
Ví dụ trong vùng chuyển vùng quốc tế, thuê bao đăng ký tại Việt Nam thực hiện cuộc gọi tại Singapore cho một thiết bị di động tại Singapore. Thông thường tuyến kết nối sẽ đi ngược về Việt Nam; nếu ứng dụng tính năng dropback, tuyến kết nối sẽ được tối ưu trong vùng của Singapore.
V. Gửi tin nhắn
1. Thiết bị di động kết nối vào mạng. Nếu kết nối đang có sẵn, quá trình này được bỏ qua.
2. Sau khi hoàn tất thành công qúa trình xác thực, nội dung thông điệp sẽ được chuyển đến Trung Tâm Dịch Vụ Tin Nhắn (SMS-C – Short Message Service Center).

VI. Nhận tin nhắn:

dùng gửi tin nhắn đến SMS-C.
2. SMS-C gửi tin nhắn đến SMS-GMSC.
3. SMS-GMSC truy vấn HLR về thông tin định tuyến.
4. HLR đáp ứng truy vấn.
5. SMS-GMSC chuyển thông điệp lại cho MSC/VLR chỉ định.
6. Tiến hành nhắn tin tìm kiếm và kết nối thiết bị vào mạng.
7. Nếu xác thực thành công, MSC/VLR sẽ phát tin nhắn đến thiết bị.
8. Nếu truyền nhận tin nhắn thành công, MSC/VLR sẽ gửi báo cáo về SMS-C; ngược lại, MSC/VLR sẽ thông báo cho HLR và gửi báo cáo lỗi về SMS-C.
4. Những thuật ngữ sau nghe quá quen, nhưng có thể bạn chưa biết viết tắt từ chữ gì !
• Sim (Subscriber Identity Module): thiết bị nhận diện người đăng ký thuê bao điện thoại di động.
• CDMA (Code Division Multiple Access)
• GSM (Global System for Mobile communication)
• IMEI (International Mobile Equipment Identity)
• SMS (Short Message Service)
• MMS (Multimedia Message Service)

KHI CÓ AI ĐÓ THỰC LÒNG YÊU THƯƠNG MÌNH . . ?

 

Khi có ai đó thực lòng yêu thương mình
. . . mình sẽ cảm nhận được điều đó thật rõ ràng và sâu sắc mà chẳng cần người ta nói 1 lời nào cả.

Khi có ai đó thực lòng yêu thương mình
. . . người đó sẽ lao đến bên mình ngay khi mình gặp khó khăn và nguy hiểm mà chẳng cần suy nghĩ.

Khi có ai đó thực lòng yêu thương mình
. . . người đó sẽ luôn quan tâm mình dù là bất cứ việc gì.

Khi có ai đó thực lòng yêu thương mình
. . . người đó sẽ cho mình tất cả mà không cần đền trả.

Khi có ai đó thực lòng yêu thương mình
. . . mình sẽ biết được rằng có người yêu mình hơn chính bản thân mình.

Khi có ai đó thực lòng yêu thương mình
. . . mình sẽ hiểu mình có giá trị như thế nào trên cuộc đời này.

 

 

 
http://d.violet.vn/uploads/resources/207/thumbnails2/0.Giu_lua_trong_tay.jpg.jpg 
Khi có ai đó thực lòng yêu thương mình
. . . mình sẽ cố gắng vượt qua mọi khó khăn cho dù biết là rất khó.

Khi có ai đó thực lòng yêu thương mình
. . . mình cũng sẽ thật lòng yêu thương và chờ đợi người.

Khi có ai đó thực lòng yêu thương mình
. . . mình sẽ luôn ở bên người ấy sẽ luôn quan tâm ủng hộ em dù là bất cứ việc gì.

Khi có ai đó thực lòng yêu thương mình
. . . mình cũng sẽ trao cho người tất cả mà không cần đền trả.

Khi có ai đó thực lòng yêu thương mình
. . . em cũng sẽ biết được rằng có người yêu em hơn chính bản thân em.

Khi có ai đó thực lòng yêu thương mình
. . . chúng ta sẽ hiểu cuộc sống có giá trị như thế nào khi trái tim tràn đầy tình yêu thương.

 
Và cho đến giờ phút này, mình biết mình có ý nghĩa như thế nào, vì mỗi ngày đều có người luôn chờ đợi mình, và yêu thương mình hơn cả bản thân người ấy. 


 




Thứ Năm, 17 tháng 3, 2011

Mạng thông tin số tích hợp dịch vụ ISDN là gì?

Mạng số tích hợp dịch vụ ISDN (Integrated Services Digital Network) được định nghĩa như mạng thông tin có thể đấu nối theo công nghệ số (digital) từ thuê bao chủ gọi và xử lý tất cả các loại dịch vụ thoại và phi thoại. Nói một cách khác, mạng ISDN cho phép tất cả các thông tin thoại (phone), số liệu (data) và hình ảnh (video) có thể truyền qua một đường dây thuê bao (subscriber line) với tốc độ cao và chất lượng tốt.

 

HỎI: Mạng thông tin số tích hợp dịch vụ ISDN là gì? Ý nghĩa của các ký hiệu 2B+D, 30B+D của mạng ISDN?

TRẢ LỜI: Mạng số tích hợp dịch vụ ISDN (Integrated Services Digital Network) được định nghĩa như mạng thông tin có thể đấu nối theo công nghệ số (digital) từ thuê bao chủ gọi và xử lý tất cả các loại dịch vụ thoại và phi thoại.

Nói một cách khác, mạng ISDN cho phép tất cả các thông tin thoại (phone), số liệu (data) và hình ảnh (video) có thể truyền qua một đường dây thuê bao (subscriber line) với tốc độ cao và chất lượng tốt. Hình 1 minh hoạ sự tích hợp dịch vụ trên.

 




 

Hình 1


Cấu hình kết nối mạng ISDN

Năm 1980, ITU-T giới thiệu cấu hình thuê bao của mạng ISDN. Khuyến nghị của ITU-T bảo đảm một mạng ISDN sẽ được vận hành với quy mô toàn cầu qua việc sử dụng các giao diện và giao thức chuẩn hoá dựa trên lớp, quy định cho mạng kết nối hệ thống truyền thông mở OSI 7 lớp. Về cơ bản cấu trúc như hình 2.

 




 

Hình 2


Trong sơ đồ hình 2, khối chức năng TE biểu thị thiết bị đầu cuối (terminal equipment) của thuê bao. TE có thể là mạng điện thoại, thiết bị multimedia, máy fax, máy vi tính PC v.v... Những tín hiệu này nối từ thuê bao đến nhà khai thác thông qua một đôi dây đồng kép.

Để kết nối giữa mạng tương tự hiện có với tổng đài ISDN, người ta lắp một khối kết cuối mạng NT (Network Termination) tại đầu dây thuê bao và một khối kết cuối đường dây LT (Line Termination). Khối NT được phân thành khối nhỏ hơn NT1 và NT2. NT1 tương ứng với lớp 1 của Hệ thống liên kết truyền thông mở OSI. Nó bao hàm các phương tiện kết nối vật lý (điện hoặc từ). NT2 là chức năng phân cấp 2 và 3 trong OSI. Các chức năng của NT2 là kết nối với các tổng đài cơ quan PBX và mạng cục bộ LAN. Tuỳ theo các loại hình thuê bao đôi khi không cần đến khối NT2.

Trong kết cấu thuê bao ISDN, các loại thuê bao kể trên là thuê bao TE1 và được kết nối với giao diện S. ITU-T còn phân ra TE2 loại thiết bị đầu cuối có ký hiệu loại X nằm ngoài các loại trên. TE2 được nối với mạng ISDN thông qua thiết bị thích ứng đầu cuối TA (Terminal Adaptor) trên hình 2, thiết bị TE2 qua điểm R và khối thích ứng TA nối tới giao diện S hoặc T.

Khối kết cuối đường dây LT được lắp đặt ngay trong giá máy của tổng đài ISDN. Hoạt động của LT cùng với NT do các nhà sản xuất khác nhau tạo ra. Để thực hiện kết nối giữa các khối NT và LT yêu cầu chúng phải có phần mềm thích hợp.

Việc tiêu chuẩn hoá các thiết bị thuê bao tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển mạng truyền thông. Các thiết bị thuê bao có giao diện tiêu chuẩn ISDN có thể nối tới tổng đài ISDN tại bất kỳ lúc nào và bất cứ đâu.

Các giao diện ISDN

Kết nối cơ bản giữa thiết bị đầu cuối TE với tổng đài ISDN có hai giao diện quan trọng: giao diện S và giao diện U. Trường hợp chức năng NT chia làm NT1 và NT2 thì giao diện S còn gọi là giao diện T.

- Giao diện S: Giao diện này được dùng để cấp nguồn đồng thời tới khối TE. Giao diện S là giao diện 4 dây cho hoạt động song công của các kênh 64kbit/s.

- Giao diện U: - giao diện này kết nối giữa khối kết cuối đường dây LT với khối kết cuối mạng NT qua các cặp dây đồng kép (truyền dẫn 4 dây). Mã đường dây truyền trên các cặp dây này là mã có tính kháng nhiễu cao, nâng được tỷ số tín hiệu/tạp âm cho phép chúng ta tăng cự ly truyền dẫn.

Truy nhập của ISDN

Mạng ISDN cung cấp cho thuê bao các loại dịch vụ khác nhau bằng sử dụng kết nối cơ bản hoặc kết nối ghép kênh sơ cấp.

- Truy nhập tốc độ cơ bản: Một kết nối cơ bản, còn gọi là truy nhập tốc độ cơ bản BRA (Basic Rate Access), cung cấp 2 kênh B. Mỗi kênh có thể truyền số liệu ở tốc độ 64kbit/s. Hai kênh này có thể sử dụng hoàn toàn độc lập với nhau. Để hệ thống kết nối thuê bao hoạt động với mạng không bị lỗi, truy nhập tốc độ cơ bản BRA còn có kênh báo hiệu D với tốc độ 16kbit/s. Như vậy truy nhập tốc độ cơ bản BRA được sử dụng. 2B + D = 2 x 64 + 16 = 144kbit/s

- Truy nhập tốc độ sơ cấp: Trường hợp các thuê bao cần truyền với tốc độ cao, các kênh cơ bản trên có thể được ghép lại bằng phương pháp ghép kênh theo thời gian TDM. Phương thức này gọi là truy nhập tốc độ sơ cấp PRA (Primary Rate Access).

Theo tiêu chuẩn châu Âu, PRA có thể gồm 30 kênh B độc lập với nhau trên đường dây (line). Việc giám sát giữa các thiết bị đầu cuối TL và tổng đài thực hiện qua kênh báo hiệu riêng, kênh D. Do yêu cầu báo hiệu có dung lượng cao hơn nên kênh báo hiệu D có tốc độ 64kbit/s.

Như vậy một PRA có thể gồm 30B+D. Đối với tiêu chuẩn Bắc Mỹ, một PRA gồm 23BD. Do đó tốc độ truyền dẫn của giao diện là 2048kbit/s (đối với tiêu chuẩn châu Âu) hoặc 1544kbit/s (với tiêu chuẩn Bắc Mỹ) thông qua việc cộng thêm một số bit khung.

Truy nhập PRA được sử dụng như phương tiện truy nhập cho thiết bị kết cuối TA 2Mbit/s. Hình 3 là một thí dụ kết nối trạm gốc BTS của mạng thông tin di động GSM với tổng đài ISDN.

 




 

Hình 3


Trong hình 3, những đôi dây đồng nối giữa khối NT và khối LE, hình thành giao diện U, có thể truyền đi xấp xỉ 2Mbit/s theo hai hướng.

Để kết luận, mạng ISDN đã mang lại lợi ích cho các thuê bao là tất cả các dịch vụ đều được truy nhập chỉ qua một số máy điện thoại. Chỉ một đôi dây điện thoại là đủ truyền dẫn thoại, fax, truyền số liệu v.v... Một giao thức đặc biệt bảo đảm để mọi cuộc gọi từ ngoài vào đều được chuyển giao cho từng loại thiết bị bằng cách sử dụng dịch vụ “số đa thuê bao”.

Tuy nhiên, các dịch vụ video (như hội nghị truyền hình), truyền số liệu với tốc độ cao cần có băng tần rộng hơn. Để thoả mãn các dịch vụ này, chúng ta cần phát triển mạng B-ISDN băng rộng với các phương tiện truyền dẫn cáp đồng trục và cáp quang.

Bài giảng về ISDN : 

http://www.mediafire.com/?zmcc0xj5x1c

http://download394.mediafire.com/3prt7j7q6ixg/miut2adwnzx/ATM_va_B-ISDN.rar

http://www.timsach.com.vn/download.php?eid=7685

Sự Sống và Cái Chết

 Bạn có bao giờ hỏi sự sống là gì và cái chết là gì.Chắc hẳn ai cũng đã từng nghĩ đến câu hỏi này nhỉ.
Kawaii Kao Ani From Freeglitters.com

 

 Hồi nhỏ mình cũng không hiểu vì sao mà thường xuyên nghĩ về sự sống và cái chết,mình luôn luôn đặt ra nhiều câu hỏi:"Tôi sinh ra từ đâu" hay "Tại sao con người lại đựoc sinh ra mà đến cuôi cùng lại phải chết đi" "Tại sao con người không thể sống vĩnh viễn.Hoặc những câu hỏi tương tự như vậy.Chắc nói ra điều này có lẽ các bạn sẽ cười mình vì hổi nhỏ mình rất sợ bóng tối,rất sợ ma,hay là sợ chết...Nhưng khi lớn lên thì đã đổi khác.Mình đã hiểu thực sự giữa sự sống và cái chết,Mình đã hiểu rằng không một ai có thể vượt qua ranh giới giữa sự sống và cái chết. Khi một con người sinh ra thì có thể một con người khác sẽ phải mất đi...Sự sống và cái chết cứ luôn xoay tròn qua nhiều người,nhiều sinh mệnh,nhiều thế hệ...Không một ai có thể thoát khỏi vòng tròn này. 
Kawaii Kao Ani From Freeglitters.com

.

 

Sự sống là điểm bắt đầu của một cuộc đời và Cái chết là nơi kết thúc của cuộc đời đó...Vậy thì khi biết chắc rằng 1 lúc nào đó cuộc đời của 1 con người sẽ kết thúc thì con người được sinh ra để làm gì...Họ sinh ra để làm 1 điều gì đó,làm một điều để khẳng định rằng họ đã được sinh ra trên cõi đời này.họ muốn khẳng định bản thận,hoặc họ muốn tìm hiểu về thế giới này.
Kawaii Kao Ani From Freeglitters.com

.Nhiều người tự khẳng định mình bằng cách muốn cho mọi người đều biết đến mình,ca ngợi mình,hay làm cho mình nổi tiếng,nhiều người thì sẽ làm 1 công việc nào đó có thể giúp ích cho tổ quốc như Giáo Sư,Bác Sĩ....Còn đối với Tôi,một cuộc sống bình thường ,không có sự tranh đua,nghi kị,thù ghét ...là điều mà tôi mà tôi mong muốn...Cuộc sống là thế đó,và Cái chết sẽ là điểm kết thúc của cuộc sống đó...Cái chết cũng được thể hiện qua nhiều dạng...Khi mà con người đã làm xong tất cả những việc cần làm thì cái chết sẽ không thể tước đoạt thêm của bạn 1 thứ gì nữa Kết thúc bài viết mình cũng chỉ muốn rằng Mọi người hãy quý trọng mạng sống của mình,quý trọng thời gian,giây phút,hay những gì bạn đang có,Lúc đó bạn sẽ cảm thấy được niềm vui và ý nghĩa khi bạn được sinh ra trên cõi đời này 
Kawaii Kao Ani From Freeglitters.com

 

Hãy làm điều gì đó thật ý nghĩa các bạn nhé




Thứ Tư, 16 tháng 3, 2011

Cảm Xúc Cuộc Sống...

hen an trua

Trong cuộc sống, luôn có niềm vui, nỗi buồn, hạnh phúc và cô đơn…. Cảm nhận của mỗi người về cuộc sống cũng thật khác nhau. Nhưng trong tôi, cuộc sống thật đẹp và lãng mạn. Không phải bởi vì với tôi cuộc sống luôn là niềm vui & hạnh phúc, mà còn có cả nỗi buồn, khó khăn và thử thách… Nhưng chính những điều này mới làm nên nét đẹp và sự lãng mạn của cuộc sống. Chỉ khi nào chúng ta cảm thấy buồn, thật buồn… lúc đó ta mới cảm nhận được niềm vui. Chỉ khi nào chúng ta gặp khó khăn, thử thách…chúng ta mới cảm nhận được thành công và chiến thắng. Chỉ khi nào chúng ta thấy buồn, cô đơn chúng ta mới cảm nhận được niềm hạnh phúc. Với tôi, cuộc sống là thế đó, cuộc sống dạy cho tôi rất nhiều điều, dạy cho tôi tri thức, dạy cho tôi lẽ phải, dạy cho tôi biết yêu thương, dạy cho tôi biết quý trọng những gì mình đang có. Cảm ơn cuộc sống, cảm ơn tất cả mọi người, ba mẹ, người thân, thầy cô, bạn bè… tất cả những ai đã cho tôi thấy được giá trị đích thực của cuộc sống 

MỘT SỐ LỆNH CĂN BẢN CỦA LINUX

Làm quen với cấu trúc file của Linux
Nhìn “bề nổi” thì cấu trúc và cách tổ chức file của Linux cũng không khác DOS/Windows và các Hệ điều hành khác là mấy. Chỉ có một điểm khác biệt lớn mà bạn cần phải chú ý là cấu trúc thư mục của Linux KHÔNG phân chia thành các ổ đĩa. Cho dù bạn có bao nhiêu ổ đĩa thì tất cả đều bắt đầu từ một thư mục gốc có tên là /. Sau đó là đi vào các thư mục con, mỗi ổ đĩa của bạn sẽ được “map” (ánh xạ) vào một thư mục con riêng biệt (thư mục nào thì còn tuỳ vào phiên bản của Linux và cũng tuỳ bạn qui định).


Thêm 3 điểm khác biệt nhỏ nữa mà bạn cần phải để ý là
- trong đường dẫn của Linux, các thư mục được phân cách nhan bằng ký hiệu / (trong khi với DOS/Windows là ký hiệu \);
- và các tham số của lệnh trong Linux được bắt đầu bằng dấu trừ (-) (VD: ls -l) trong khi với DOS/Windows là ký hiệu / (VD: dir /a); các tham số của Linux có thể được dùng kết hợp với nhau (VD: ls -al, ls -ls…)
- cuối cùng, Linux khác với Windows ở chỗ Linux phân biệt chữ hoa và chữ thường, trong Linux abc và Abc là khác nhau.


Một số phím/tổ hợp phím bạn cần biết
Ctrl-C: bạn hãy nhớ kỹ tổ hợp phím này. Trong trường hợp bạn cảm thấy “có cái gì đó bất ổn” xảy ra, hay là chương trình bạn chạy không chịu dừng thì bạn hãy thử nhấn tổ hợp phím này. 99% chương trình của Linux chạy trên chế độ text đều có thể được/bị kết thúc bằng tổ hợp phím này.


Ctrl-Alt-Del: tương tự như trong DOS. Tổ hợp phím này sẽ khởi động lại máy tính.

Ctrl-D: khi một chương trình yêu cầu bạn nhập dữ liệu từ bàn phím, bạn có thể nhấn tổ hợp phín này để báo cho chương trình biết là quá trình nhập dữ liệu đã kết thúc. Tổ hợp phím này sẽ gởi tín hiệu EOF (End Of File) đến chương trình.. Nếu nhấn Ctrl-D mà không thấy “xi nhê”, bạn thử gõ vào EOF (ba chữ cái E, O và F) rồi nhấn Enter (phím Enter).

ESC: đây là phím Esc ở góc trái, phía trên của bàn phìm, trước khi nhấn Ctrl-C để kết thúc chương trình, bạn hãy thử nhấn ESC trước xem sao.

ENTER: đây là phím Enter trên bàn phím, chắc là tôi khỏi phải giới thiệu về chức năng của phím này nữa chứ nhỉ?

Một số lệnh căn bản của Linux
Các lệnh được trình bày sau đây tôi sẽ cố gắng so sánh nó với một lệnh tương tự trong DOS để nếu như bạn đã biết qua các lệnh của DOS rồi thì sẽ dễ hiểu hơn. Còn nếu bạn chưa từng biết qua các lệnh của DOS? Cũng không sao, bạn sẽ biết được thêm cùng 1 lúc các lệnh của Linux và DOS. Chú ý, đây là các lệnh trong chế độ text và được gõ từ bàn phím. Các lệnh phải được gõ chính xác (vì Linux phân biệt giữ chữ hoa và chữ thường!). Và dĩ nhiên là sau khi gõ xong một lệnh thì bạn đừng quên nhấn Enter để Linux bắt đầu thực hiện lệnh đó! 

:-)

 Lưu ý thêm là những gì tôi ghi giữa 2 ngoặc nhọn (< và >) là bắt buộc phải có, giữa hai ngoặc vuông ([ và ]) là tuỳ chọn (không bắt buộc).
man đây có lẽ là lệnh mà bạn cần phải nhớ kỹ (đừng bao giờ quên!). Lệnh này tương tự như lệnh Help trong DOS. man sẽ hiển thị các thông tin chi tiết về cộng dụng, cách dùng và cú pháp của một lệnh khác (dĩ nhiên là các thông tin đều bằng tiếng Anh).
Cú pháp: man <tên_lệnh_khác>
Ví dụ: man ls


 

Và bạn hoàn toàn có thể gõ man man để hiển thị các thông tin giúp đỡ về chính lệnh man!

Lưu ý: để thoát (kết thúc) lệnh man, bạn hãy gõ vào ký tự hai chấm (
Smiley

 sau đó gõ tiếp ký tự q. Nếu không thành công, bạn hãy nhấn phím ESC và thử lại lần nữa. Bạn cũng có thể nhấn Ctrl-C để thoát khỏi man.

 

ls lệnh này tương tự như lệnh dir trong DOS. ls sẽ liệt kê danh sách tất cả các file và thư mục nằm trong một thư mục mà bạn chỉ định.
Cú pháp chung: ls [tham_số] [thư_mục]
Nếu như bạn cung cấp phần thư_mục thì ls sẽ liệt kê các file trong thư mục hiện tại.
Ví dụ:
ls
ls -a
ls -al /usr


Một số tham số của ls như sau:

-a: liệt kê tất cả các file, kể cả file ẩn, là những file mà tên bắt đầu bằng dấu chấm (.)
-A: liệt kê tất cả các file, kể cả file ẩn, nhưng không liệt kê . và .., đây tên của thư mục hiện tại và thư mục cha trong Linux.
-l: liệt kê chi tiết về file (bao gồm các thông tin như thời gian tạo, kích thước, thuộc tính…).


Bạn hãy tự mình tìm hiểu thêm về các tham số khác của ls nhé! (dùng man ls). Và đừng quên dùng man cho các lệnh tiếp theo.

cd lệnh này tương tự như lệnh cd trong DOS. Dùng để  chuyển tới một thư mục khác.
Cú pháp: cd [tên_thư_mục]
Ví dụ: cd /home


Nếu bạn không cung cấp tên_thư_mục thì cd sẽ đưa bạn về thư mục “tổ ấm” (home directory) của bạn. Trong Linux, mỗi người sử dụng đều có một home directory. Nếu username của bạn là nbthanh thì home directory của bạn sẽ là /usr/nbthanh. Riêng account root sẽ có home directory là /root.
passwd lệnh này tương tự như lênh cd (không có tham số) trong DOS. Lệnh này sẽ hiển thị lên màn hình cho bạn biết là bạn hiện đang ở thư mục nào.
Cú pháp: pwd
mkdir tương tự như lệnh md của DOS. Lệnh này dùng để tạo một thư mục mới.
Cú pháp: mkdir <tên_thư_mục_muốn_tạo>
Ví dụ:
mkdir mydir
mkdir /tmp/mydir2
rmdir tương tự như lệnh rm trong DOS, dùng để xoá một thư mục.
Cú pháp: rmdir <thư_mục_muốn_xoá>
Ví dụ:
rmdir mydir
rmdir /tmp/mydir2
rmdir /tmp/*


Lưu ý: bạn chỉ có thể xoá được thư mục nếu như nó rỗng, nghĩa là nó không chứa một file hoặc thư mục con nào nữa (ngoài . và ..).
cp tương tự như lệnh copy của DOS, dùng để chép file hoặc thư mục từ nơi này đến nơi khác.
Cú pháp: cp [tham_số] <file_hoặc_thư_mục_nguồn><file_hoặc_thư_mục_đích>
Ví dụ:
cp /tmp/myfile.txt myfile.text
cp /home/*.cgi ./
cp -r /usr/nbthanh1 /usr/nbthanh2


Mặc định thì cp chỉ chép các file, nếu bạn thêm tham số -r thì cp sẽ chép luôn các thư mục.

rm tương tự như lệnh del trong DOS, lệnh này dùng để xoá file.
Cú pháp: rm <tên_file_muốn_xoá>
Ví dụ:
rm myfile.txt
rm /usr/nbthanh/nbtfile.txt
rm /tmp/*


mv tương tự như lênh move (ngoại trú) của DOS. Lệnh này sẽ di chuyển/đổi tên file từ nơi này đến nơi khác.
Cú pháp: mv <file_hoặc_thư_mục_nguồn><file_hoặc_thư_mục_đích>
Ví dụ về di chuyển:
mv /tmp/myfile.txt /usr/nbthanh
mv myfolder /tmp
mv /usr/* /tmp
Ví dụ về đổi tên, vừa di chuyển vừa đổi tên:
mv myfile1.txt myfile2.txt
mv /usr/oldfoler ./newfolder


cat tương tự như lệnh type của DOS. Lệnh này dùng để hiển thị nội dung của 1 file lên màn hình.
Cú pháp: cat <tên_file_cần_hiển_thị>
Ví dụ:
cat myfile.txt
cat /tmp/temp.text
Vậy là đã xong, tôi đã trình bày với bạn một số lệnh căn bản nhất của Linux. Bạn tự mình ra bài tập và thực hành nhé! Có thể bạn sẽ thắc mắc là tại sao không có lệnh nào tương tự như copy con trong DOS? Vâng đúng là như vậy, trong Linux, để tạo file thì bạn phải dùng một chương trình cụ thể (như một chương trình soạn thảo văn bản chẳng hạn) chứ không có lệnh tương tự nhu copy con của DOS.


Làm quen với Linux
Linux là hệ điều hành đa người dùng, nghĩa là nhiều người có thể truy cập và sử dụng 1 máy tính cài Linux. Mỗi người muốn sử dụng được máy tính cài Linux thì phải có 1 account đã được đăng ký. Một accout gồm có 1 username và 1 password. Hai người khác nhau sẽ có 2 username khác nhau (nhưng password thì có thể trùng nhau). Để có thể bắt đầu thao tác và sử dụng, người dùng phải thực hiện thao tác đăng nhập (login và hệ thống). Quá trình này tóm gọn lại là 2 thao tác nhập vào username và password. Username và password cũng phân biệt chữ hoa và chữ thường. Và khi nhập vào password, trên màn hình sẽ không hiển thị bất cứ ký tự nào.


Linux có 1 account đặc biệt là account root. Đây là user có cấp cao nhất, có toàn quyền “sinh sát” đối với toàn hệ thống.

Mỗi người dùng trên Linux được cấp một thư mục riêng (gọi là home directory), là một thư mục con của /usr. Có dạng /usr/username; nghĩa là nếu username bạn là nbthanh thì home directory của bạn là /usr/nbthanh. Riêng đối với accout root thì home directory là /root. Các user có thể cùng thuộc một nhóm (group) hoặc là khác nhóm; các user trong cùng một nhóm thì có quyền hạn như nhau. Thường thì tất cả các user đều thuộc vào nhóm User (trừ root và các account dành riêng cho hệ thống).

User chỉ có quyền thao tác trong home directory của mình (và những thư mục khác được phép của hệ thống) mà thôi. User này không thể truy cập vào home directory của user khác (trừ trường hợp được chính user đó hoặc root cho phép). Mỗi tập tin (file) và thư mục trên Linux đều được “đăng ký chủ quyền”, nghĩa là thuộc về một user và nhóm nào đó. Thường thì tập tin và thư mục được tạo bởi user nào thì sẽ thuộc về user đó. VD username của bạn là nbthanh, bạn thuộc nhóm user và bạn tạo ra 1 tập tin có tên là myfile.txt thì tập tin myfile.txt sẽ được đánh dấu là “người sử hữu: nbthanh; thuộc về nhóm: user”. Những user khác không thể truy cập được myfile.txt nếu không được phép của bạn. Bạn hoàn toàn có thể thay đổi “chủ sở hữu” của tập tin/thư mục bằng các lệnh của Linux. Bạn hoàn toàn có thể đặt myfile.txt thuộc về user nbthanh nhưng lại thuộc về nhóm guests (mặc dù user nbthanh không nằm trong nhóm guests).

Một số lệnh căn bản của Linux
Đây là các lệnh trong chế độ text và được gõ từ bàn phím. Các lệnh phải được gõ chính xác (vì Linux phân biệt giữ chữ hoa và chữ thường!). Sau khi gõ xong một lệnh bạn đừng quên nhấn Enter để Linux bắt đầu thực hiện lệnh đó! 

:-)

 Lưu ý thêm là những gì tôi ghi giữa 2 ngoặc nhọn (< và >) là bắt buộc phải có, giữa hai ngoặc vuông ([ và ]) là tuỳ chọn (không bắt buộc). Và cuối cùng: đừng quên dùng lệnh man để xem thêm thông tin hướng dẫn về các lệnh
exit && logout trong text mode, Linux cung cấp cho bạn 6 desktop (tty1…tty6) để làm việc. Bạn có thể bật chuyển qua lại giữa các desktop bằng cách nhấn tổ hợp phím Alt-F1…Alt-F6. Hai lệnh exit và logout kết thúc phiên làm việc của desktop hiện tại và trở về màn hình login.
Cú pháp:
exit
logout
chown lệnh này dùng để thay đổi “chủ sở hữu” của 1 tập tin hay thư mục, tức là gán cho tập tin hoặc thư mục chỉ điịnh thuộc về quyền sở hữu của một user nào đó.
Cú pháp:
chown username[.groupname] <tên_file_hoặc_thư_mục>
chown .groupname <tên_file_hoặc_thư_mục>
Bạn cung cấp username thì file/thư mục sẽ được đặt là thuộc quyền sở hữu của username đó. Nếu bạn cung cấp groupname thì file/thư mục sẽ thuộc về nhóm groupname đó. Hai phần này độc lập với nhau, thay đổi quyền sở hữu user sẽ không làm thay đổi quyền sở hữu group và ngược lại.


 

Ví dụ: có file guestfile.txt thuộc về user abc thuộc về group guests, có một user nbthanh thuộc về nhóm moderators, file myfile.txt thuộc về quyền sở hữu của nbthanh và thuộc về nhóm moderator.
user              group
guetsFile.txt              abc              guests
Myfile.txt                 NTBINH         moderators


sau khi thực hiện lệnh chown nbthanh guestfile.txt
user              group
guetsFile.txt             NTBINH             guests
Myfile.txt                 NTBINH         moderators


sau khi thực hiện lệnh chown .guests myfile.txt
user              group
guetsFile.txt             NTBINH            guests
Myfile.txt                 NTBINH            guests
sau khi thực hiện lệnh chown abc.moderators *.txt
user              group
guetsFile.txt              abc             moderators
Myfile.txt                  abc             moderators


chmod lệnh này dùng để thay đổi thuộc tính của tập tin hoặc thư mục. Các thuộc tính đó là đọc (read), ghi (write) và thực thi (execute). Thuộc tính của tập tin/thư mục bao gồm 9bit, chia thành 3 phần như sau (r = read, w = write, x = execute):



Nếu các bit trong phần owner được bật (đặt bằng 1) thì user sở hữu tập tin/thư mục đó được quyền thao tác các lệnh tương ứng (đọc, ghi, thi hành) với tập tin/thư mục; nếu các bit trong phần group được bật thì tất cả các user nằm trong nhóm sở hữu tập tin/thư mục đó sẽ được quyền thao tác các lệnh tương ứng; và nếu các bit trong phần public được bật thì các user thuộc các nhóm khác cũng có quyền thao tác với tập tin/thư mục (nếu bạn muốn tập tin/thư mục của bạn được truy cập từ internet thì bác bit tương ứng trong phần public phải được bật).


 

Lưu ý: khi bạn thay đổi thuộc tính bằng lệnh chmod thì bạn có thể dùng các chữ cái r, w, x để chỉ thuộc tính hoặc mã hoá các thuộc tính thành số tương ứng. Chú ý là khi mã hoá các thuộc tính thành số thì bạn phải dùng hệ cơ số 8. Sau đây là một số ví dụ:



Cú pháp:
chmod thuộc_tính_dạng_chữ <tên_file_hoặc_thư_mục>
chmod thuộc_tính_dạng_số <tên_file_hoặc_thư_mục>
Ví dụ: dùng thuộc tính dạng số
chmod 755 cgi-bin
chmod 744 /user/nbthanh/images/*.gif


 

Với thuộc tính dạng chữ thì cách dùng có khác một tí, bạn phải chỉ rõ là bạn muốn thay đổi thuộc tính của phần nào (u = owner, g = group, o = public, a = all); bạn muôn bật (+) hay tắt(-) thuộc tính; và cuối cùng là bạn muốn thay đổi thuộc tính nào (r = read, w = write, x = execute).
Ví dụ: có tập tin myfile.txt lúc ban đầu có thuộc tính là rwxr–r–


 

useradd lệnh này dùng để thêm 1 account vào hệ thống.
Cú pháp: useradd username
Ví dụ: useradd nbthanh


Lưu ý:

Bạn phải login với account root mới có thể thực hiện lệnh này.
Sau khi tạo 1 account mới, bạn phải dùng mkdir để tạo home directory (dạng /usr/username) cho user mới tạo.
Và bạn phải làm thêm 1 bước tiếp theo là dùng lệnh passwd để đặt mật mã (password) cho account mới tạo.


userdel lệnh này dùng để xoá 1 account ra khỏi hệ thống.
Cú pháp: userdel username
Ví dụ: userdel nbthanh


passwd dùng để thay đổi mật mã của 1 account.
Cú pháp: passwd [username]
Ví dụ:
passwd
passwd nbthanh


Nếu bạn không cung cấp username, lệnh passwd sẽ đổi mật mã của user hiện tại (user đang chạy lệnh passwd). Và nếu bạn muốn thay đổi mật mã của một user khác thì bạn phải login với account root.

Lưu ý:

Sau khi chạy lệnh passwd, bạn sẽ phải nhập vào mật mã mới, nhấn Enter, và nhập lại mật mã mới một lần nữa, rồi Enter. Mật mã nhập vào sẽ không hiển thị BẤT CỨ ký tự nào lên màn hình.
Một số bản Linux bắt buộc bạn phải nhập vào mật mã cũ trước khi cho phép bạn thay đổi mật mã.


telnet lệnh này có trên cả Windows và Linux. Bạn dùng lệnh telnet để login vào một hệ thống chạy Linux (và có thể là Windows) từ xa thông qua mạng LAN hoặc internet.
Cú pháp: telnet <địa_chỉ_của_máy_tính_muốn_truy_câp>
Ví dụ:
telnet 192.168.0.1
telnet myname.mydomain.com


Sau khi telnet kết nối thành công, bạn sẽ được nhắc nhập vào username và password để login. Sau khi login thành công thì xem như là bạn đã ở trên một hệ thống Linux thự sự, bạn có thể thực hiện được tất cả các lệnh đã biết.

Lưu ý: vì lý do bảo mật, bạn không thể dùng telnet để login với account root.

su Nếu bạn đang login, bạn có dùng lệnh này để login với một account khác mà không cần phải logout trước. Thường thì lệnh su được dùng để login vào account root. qua đường telnet. Vì telnet không cho phép bạn login với account root, nên trước hết bạn phải login với 1 account khác, sau đó dùng lệnh su để login với account root.
Cú pháp: su


Sau khi thực hiện lệnh su (không có tham số), bạn sẽ phải nhập vào password của root. Nếu thành công, bạn đã truy cập được vào hệ thống với account root. Bạn dùng lệnh exit hoặc logout để thoát khỏi account root và trở về làm việc với account của bạn.

 

Thứ Ba, 15 tháng 3, 2011

Quản lý điện thoại di động bằng C#




Điện thoại di động (ĐTDĐ) còn được biết tới như một modem không dây hay GSM Modem. Nếu như modem là thiết bị truyền nhận dữ liệu qua dây (wire) thì ĐTDĐ là thiết bị truyền nhận dữ liệu qua sóng vô tuyến (wireless). Cũng như modem, chúng ta hoàn toàn có thể điều khiển được ĐTDĐ qua tập lệnh AT do Viện Tiêu Chuẩn Viễn Thông Châu Âu (European Telecommunication Standards Institute - ETSI) đưa ra. Dưới đây là một số tài liệu về tập lệnh thao tác với ĐTDĐ được sử dụng trong quá trình viết ứng dụng:

[1]. GSM 07.05, ver 5.5.0 - Use of Data Terminal Equipment - Data Circuit Terminating Equipment (DTE - DCE) interface for Short Message Service (SMS) and Cell Broadcast Service (CBS).

[2]. GSM 03.40, ver 5.3.0 - Technical realization of the Short Message Service (SMS) Point-to-Point (PP).

[3]. GSM 03.38, ver 5.3.0 - Alphabets and language-specific information.

[4]. GSM 07.07, ver 5.0.0 - AT command set for GSM Mobile Equipment (ME).

Trong đó, tài liệu [1] mô tả về các kiểu định dạng của tin nhắn (text, binary) và các lệnh AT thao tác với tin nhắn; tài liệu [2], [3] mô tả về cấu trúc và kiểu mã hoá của tin nhắn (binary); tài liệu [4] mô tả tập lệnh thao tác với ĐTDĐ. 

HÃY BƯỚC CHẬM LẠI

         

 Hãy bước chậm lại . . . bạn sẽ không bị vấp ngã, vì biết đâu trên con đường mà bạn đang đi phía trước đầy nguy hiểm, chậm lại có thể bạn vẫn bị ngã nhưng vết thương sẽ nhẹ nhàng hơn và nổi đau sẽ không sâu như thế


        

   Hãy bước chậm lại . . . hãy dành thời gian để chọn lựa con đường riêng cho bạn. Trước mỗi chúng ta luôn có nhiều ngã rẽ khác nhau: qua trái – qua phải – hay tiếp tục đi thẳng . . Mỗi con đường mà ta chọn lựa sẽ là một bước ngoặc lớn cho cuộc đời của mình vì vậy hãy bước chậm lại để có sự chọn lựa chính xác. 

       

  Hãy bước chậm lại . . . vì biết đâu phía sau bạn có người đang cần sự giúp đỡ. Một bàn tay đưa ra đúng lúc thực sự là đáng quí và trân trọng biết bao. Vì liệu bạn có chắc rằng trong suốt cuộc đời này bạn không cần một bàn tay của ai đó 

       

 Hãy bước chậm lại  . . . và lắng nghe . . . chắc chắn bạn sẽ nhận ra xung quanh bạn có rất nhiều điều thú vị. Và rằng hoa vẫn nở . . . chim vẫn hót . . . cuộc sống vẫn đang sôi động. Vậy thì tại sao chúng ta cứ phải vội vã nhỉ, hãy bước thật chậm và tận hưởng những niềm vui của cuộc sống 

 

 Hãy bước chậm lại . . . vì nếu không có thể bạn sẽ bỏ qua những cơ hội quan trọng dành cho bạn, những con người yêu thương và quan tâm bạn. Mà cơ hội thì không đền nhiều lần trong đời, vì vậy hãy cẩn thận bạn nhé 

           

   Hãy bước chậm lại . . . bạn sẽ thấy thời gian sao mà trôi nhanh thế, mà chúng ta thì ấp ủ biết bao dự định trong đầu, vì vậy đừng phí thời gian cho những thứ phù phiếm, hãy tập trung để làm những việc cần thiết và đúng sở trường của bạn. 

          

 Hãy bước chậm lại . . . bạn sẽ nhận ra bạn đã đi quá xa rồi đấy, hãy tự hỏi bạn có bỏ quên gì không? Xung quanh bạn còn ai không? Trả lời được hai câu này bạn sẽ biết mình sẽ làm gì? 

         

  Hãy bước chậm lại . . . bạn có thấy cuộc sống những ngày qua là tẻ nhạt không? Rằng bạn chưa thực sự làm được gì có ích không?Và rằng bạn luôn gặp xui xẻo hay luôn bị sai lầm không? Ai cũng từng có cảm giác như vậy, giờ là lúc chúng ta cùng nhìn lại – cả bạn cả tôi – nhìn lại để có những quyết định đúng đắn nhất cho mình. 

            
Photobucket Bước chậm hơn một chút . . . và chấp nhận những gì mình đã có, cho dù là mất hay được, buồn hay vui . . .

Thứ Bảy, 12 tháng 3, 2011

YÊU THƯƠNG MONG MANH

hen an trua



Những ai đã từng trải qua đổ vỡ, những ai đã một lần biết đến đau khổ của tình yêu thì chắc chắn sẽ hiểu được rằng: Tình yêu thật mong manh, khó nắm giữ, khó biết trước được tương lai…

Anh và em– hai con người đã trải qua mọi cung bậc tình cảm, đã đi qua những đổ vỡ, gặp nhau và cảm nhận được tình cảm của cả hai dành cho nhau, và đến với nhau…

Với anh, những tháng ngày đó là hạnh phúc nhất của cuộc đời, bởi anh được sống trọn vẹn với trái tim mình nhất, yêu thật lòng nhất.

Hạnh phúc, tình yêu là không nuối tiếc, dẫu để có được nó anh đã phải trải qua những giông bão, đắng cay, thì với anh đó cũng là sự lựa chọn, là điều anh chấp nhận và sẵn sàng đánh đổi tất cả vì nó..


Đã biết bao lần anh lo lắng về tương lai, về tình yêu của mình: Liệu có bền lâu, có đi hết đến cuối cuộc đời và trách móc em về những điều đã xảy ra…


Và anh sẽ yêu em hơn lời những gì anh đã nói..


Nhưng giờ đây anh hiểu, cuộc sống vốn ngắn ngủi, cuộc đời vốn hay đổi thay, chẳng ai biết ngày mai sẽ ra sao, vậy thì tại sao không sống trọn vẹn những ngày có nhau? Tại sao phải làm người mình yêu phải đau buồn, để rồi đến khi hạnh phúc tuột khỏi tầm tay thì lại dằn vặt, tự trách móc bản thân?

"Đừng tiếc nuối quá khứ, đừng lo lắng về tương lai, hãy sống trọn vẹn mỗi ngày là đủ!”, mình sẽ sống trọn vẹn những tháng ngày còn lại được không em.

Hứa một lời sẽ mãi bên nhau
Và anh sẽ nhìn emvà hát
Anh sẽ mãi yêu em hơn lời anh nói
Dù năm tháng đổi thay người hỡi
Những ngọt ngào vẫn mãi trong nhau
Bàn tay vẫn tìm nhau trìu mến
Và ta sẽ mãi yêu cho dẫu mai đây về đâu.