This is my blog: vuvanson.tk

Go to Blogger Vi-et Spaces.

This is my blog: sonblog.tk

Go to Blogger Vi-et Spaces.

This is my blog: vi-et.tk

Go to Blogger Vi-et Spaces.

This is my facebook: https://www.facebook.com/vusonbk

Go to Facebook Blogger Vi-et Spaces.

This is my facebook page: https://www.facebook.com/ViEtSpaces

Go to Facebook Page Blogger Vi-et Spaces.

Thứ Sáu, 28 tháng 1, 2011

Mạch tự sáng khi trời tối



Nhìn vào mạch trên khá là đơn giản vì mạch chỉ sử dụng 1 con 555 để tạo dao động phát âm thanh ra loa và 1 con LDR cảm biến ánh sáng.
+ 555 ở đây là con tạo dao động xung vuông trong mạch này nó tạo dao động là 1Khz cấp cho tải là Loa


+ LDR là cảm biến ánh sáng. Khi không có anh sáng thì cảm biến này có giá trị điện trở là vô cùng còn khi có ánh sáng đủ mạch thì cảm biến có giá trị điện trở là 0.


Khi có ánh sáng thì LDR sẽ có điện trở bằng 0 khi đó nó sẽ phân cực thuận cho con BC158 dẫn đến cấp điện áp vào chân 4 của 555 là mạch dao động 555 hoạt động và phát âm thanh ra loa. Còn khi không có ánh sáng thì LDR có giá trị điện trở vô cùng do đó nó ko phân cực được cho BC158 ==> Không có tín hiệu ra loa. Biến trở 100K dùng để điều chỉnh mức cường độ ánh sáng cảnh báo.

 

 

Tổng hợp tài liệu và video học lập trình VB.NET

 








Đây là một số tài liệu tổng hợp về VB, trong này gồm có:
1/ VB

  • Công cụ Control

  • Mẹo VB

  • Một số Samples

  • Giao diện XP

  • Giáo trình học VB của Vivosoft

  • Su dụng VB 6 resources editor

  • Việt hóa VB

  • Advanced Visual Basic 2nd Edition - Microsoft

  • Bài tập VB

  • ....


2/ VB.NET

  • Hướng dẫn lập trình VB.Net - Vivosoft

  • Visual.Basic.NET for Students



 Download

 

 


Tài liệu học vb.net bằng video. Trung tâm tin học ĐHKHTN


 

Thứ Năm, 27 tháng 1, 2011

Các phương pháp định vị trong mạng 3G (UMTS/WCDMA)

PHÂN LOẠI CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH VỊ

Nếu phương pháp định vị GPS đang là phương pháp định vị có những ưu điểm vượt trội, được triển khai trong các mạng di động thế hệ 2G thì nay trong thế hệ 3G có thêm nhiều tùy chọn hỗ trợ cho các dịch vụ định vị với những ưu điểm như giảm độ trễ, đơn giản hóa hệ thống, giảm giá thành và tăng độ chính xác…

 

Các phương pháp định vị trong thế hệ 3G:

 

- Các phương pháp dựa trên tế bào (cell):

  Theo một cách đơn giản nhất, vị trí của mục tiêu tương ứng với tọa độ của một trạm gốc gần đó. Nếu được yêu cầu, dữ liệu định vị được tinh chỉnh bằng cách thực hiện tính toán khoảng cách giữa đầu cuối và trạm gốc, có thể được lấy từ tham số độ lệch thời gian khứ hồi (RTT- Round Trip Time), góc tín hiệu đến (AoA-Angle of Arrival) từ đầu cuối tại trạm gốc, hoặc cả hai.

 

- Chênh lệch thời gian quan sát được của tín hiệu đến với chu kỳ rỗi đường xuống:

(OTDoA-IPD- Observed Time Difference of Arrival with Idle Period Downlink). Về cơ bản, phương pháp này dựa trên UTRAN, và là phương pháp đo khoảng cách dựa trên đầu cuối.

 

- Hỗ trợ từ GPS (A-GPS - Assisted GPS):

  Các đầu cuối phải được trang bị một bộ thu GPS và được cung cấp các dữ liệu hỗ trợ từ mạng, cho phép giảm thời gian bắt và tăng độ chính xác của vị trí được xác định.

 

1. CÁC PHƯƠNG PHÁP DỰA TRÊN TẾ BÀO

Tương tự như phương pháp nhận dạng tế bào (Cell-ID) trong GSM, phương pháp này đưa ra vị trí của một đầu cuối từ tọa độ của trạm gốc đang phục vụ. Vị trí được ánh xạ số định danh cell sang các tọa độ của trạm gốc đang phục vụ. Hình 1 minh họa tổng quan các lựa chọn khác nhau cho phương pháp định vị dựa trên cell.

 

 
dinh vi 020410

 

 


Hình 1: Các phương pháp định vị dựa trên cell [1]

 

Như Hình 1, đầu cuối có thể có nhiều nhánh tín hiệu tới một vài sector của một trạm gốc hoặc tới một vài trạm gốc đồng thời. Kết quả là, cần lựa chọn một trạm gốc tham chiếu phù hợp nhất với vị trí hiện tại của đầu cuối. Các tiêu chuẩn lựa chọn:

- Các tham số mô tả chất lượng tín hiệu nhận được tại trạm gốc, ví dụ như, cường độ tín hiệu, tốc độ lỗi, …

- Trạm gốc đã được sử dụng trong quá trình thiết lập kết nối với đầu cuối, trạm gốc mà đầu cuối được kết hợp tại thời điểm gần nhất, trạm gốc với khoảng cách ngắn nhất tới đầu cuối, và trạm gốc mà đầu cuối có một kết nối tại thời điểm yêu cầu định vị tới RNC phục vụ (SRNC).

 

2. CHÊNH LỆC THỜI GIAN QUAN SÁT ĐƯỢC CỦA TÍN HIỆU ĐẾN VỚI CHU KỲ RỖI CỦA TÍN HIỆU ĐẾN VỚI CHU KỲ RỖI ĐƯỜNG XUỐNG (OTDOA-IPDL)

OTDoA-IPDL là một trong số các phương pháp định vị dựa trên kỹ thuật sử dụng sự chênh lệch thời gian đường xuống. Đối với kỹ thuật này, các đầu cuối quan sát chênh lệch thời gian của tín hiệu từ một vài trạm gốc. Các tín hiệu này thường là các tín hiệu kênh điều khiển và vì vậy, các đầu cuối có thể thực hiện các đo đạc ở chế độ rỗi cũng như ở các chế độ dành riêng. Các chênh lệch đồng hồ của các trạm gốc có thể được giải quyết thông qua một bộ thu tham chiếu được đặt tại vị trí xác định, liên tục đo các chênh lệch thời gian quan sát được. Điều này thực hiện đơn giản và kinh tế hơn so với việc đồng bộ truyền dẫn các trạm gốc.

 

 
dinh vi 02

 

 

 


Hình 2: Phương pháp đo OTDoA- IPDL [2]


 

Độ chính xác của các kỹ thuật dựa trên chênh lệch thời gian phụ thuộc vào một số nhân tố. Độ chính xác của đo chênh lệch thời gian riêng biệt phụ thuộc băng thông tín hiệu và kênh đa đường.

 

3. A-GPS

Với khả năng định vị chính xác cao và phủ sóng toàn cầu, GPS là lựa chọn tốt nhất so với các phương pháp định vị di động. Tuy nhiên, GPS cũng có một số hạn chế như tiêu tốn nhiều năng lượng của bộ thu GPS, thời gian thực hiện định vị hay thời gian tới vị trí đầu tiên cần định vị (TTFF- Time To First Fix) lớn, và khả năng phục vụ trong nhà kém. Hơn nữa, GPS là một hệ thống định vị độc lập và không cung cấp bất kỳ tính năng truyền thông nào, vì vậy việc sử dụng nó ngày nay hầu hết bị giới hạn tới các ứng dụng được cài đặt cục bộ tại bộ thu GPS. Để giải quyết các vấn đề này, cần tích hợp GPS vào mạng di động. Vì vậy, định vị GPS hỗ trợ các trạm tham chiếu (DGPS- Differential GPS), bổ sung như một phần trọn vẹn của hạ tầng mạng di động và bởi các thủ tục báo hiệu bổ sung giữa mạng và đầu cuối. Kết quả là, có phương pháp định vị được hỗ trợ từ GPS gọi là A-GPS và được sử dụng cho hầu hết các hệ thống di động. So với phương pháp GPS, A-GPS cung cấp các cải thiện độ chính xác, giảm thời gian bắt vị trí, tiêu tốn năng lượng ít hơn bộ thu, và tăng độ nhạy của bộ thu.

 

Để sử dụng được A-GPS, đầu cuối phải được trang bị module GPS để thu các tín hiệu hoa tiêu và dữ liệu hỗ trợ từ vệ tinh. Module này được hỗ trợ thông tin điều khiển và dữ liệu hỗ trợ bổ sung từ mạng di động. Bên cạnh đó phải có các trạm tham chiếu bên trong hạ tầng mạng di động, cho việc tính toán dữ liệu và dịch dữ liệu thô thành dữ liệu hỗ trợ. Trạm tham chiếu được kết nối tới một trung tâm phục vụ định vị thuê bao di động (SMLC-  Serving Mobile Location Center) (độc lập hoặc kết hợp với một BSC/RNC). Hình 3 mô tả khái quát kiến trúc A-GPS và báo hiệu giữa các thành phần.

 

 
dinh vi 03

 

 


Hình 3: Cơ sở hạ tầng A-GPS [2]

Như Hình 3, báo hiệu bổ sung được yêu cầu giữa trạm tham chiếu với SMLC, và giữa SMLC với đầu cuối mục tiêu.

 

Bảng 1 đưa ra một cách tổng quan về độ chính xác, tính nhất quán và tính phổ dụng của các phương pháp định vị hiện tại.

 

Bảng 1: Các đặc tính hiệu năng của các phương pháp định vị di động [4]







































 

Độ chính xác



Tính nhất quán



Tính phổ dụng



Nông thôn



Ngoại ô



Nội thị


Cell-ID

>10 km



2-10 km



50-1000 m



Kém



Tốt


OTDoA

50-120 m



50-250 m



50-300 m



Trung bình



Trung bình


A-GPS

10-40 m



20-100 m



30-150 m



Tốt



Tốt




 

Bảng 2 đưa ra một số đặc tính khác của các phương pháp định vị mạng di động như TTFF, tác động đến đầu cuối, lượng mào đầu và các chi phí cần thiết.

 

Bảng 2: Một số đặc tính khác của các phương pháp định vị di động [4]
































 TTFF

Đầu cuối



Mào đầu



Các chi phí


Cell-ID~ 1 sKhông thay đổi

Rất nhỏ



Rất thấp


OTDoA5-10 sThay đổi phần mềm

Trung bình/Lớn



Cao


A-GPS5-10 sThay đổi cả phần mềm và phần cứng

Trung bình/Lớn



Thấp tới trung bình




 

 

KẾT LUẬN

Với tính đơn giản và chi phí thấp, Cell-ID sẽ là sự lựa chọn tốt nhất để bắt đầu đưa dịch vụ định vị (LBS - Location-based Service) vào mạng mặc dù độ chính xác vị trí và tính ổn định không cao và chỉ hỗ trợ số lượng dịch vụ rất hạn chế. Khi số lượng thuê bao sử dụng dịch vụ tăng, đồng thời yêu cầu cung cấp nhiều dịch vụ hơn thì các kỹ thuật định vị có độ chính xác cao sẽ được xem xét (OTDoA hoặc A-GPS). OTDoA cần một khoản chi phí đầu tư ban đầu rất lớn vào khối đo đạc vị trí (LMU - Location Measurement Unit), thậm chí sau khi đầu tư lớn như vậy vẫn cần triển khai bổ sung A-GPS ở những nơi mà chất lượng của OTDoA kém để hỗ trợ cho các dịch vụ tiên tiến hơn. Với A-GPS thì nhà khai thác cần ít chi phí hơn cũng như việc triển khai cũng đơn giản hơn so với OTDoA. Ngoài ra, A-GPS cho các chỉ tiêu tốt hơn với chi phí thấp hơn so với triển khai diện rộng OTDoA.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Septier, Location based services – Comprehensive Solution, Septier Communication Ltd, 2006.

[2] Gidon Lissai, Assisted GPS Solution in Cellular Networks, Ph. D. Thesis, Rochester Institute of Technology College of Applied Science & Technology, 2006

[3] Heikki Kaarnenm, Ari Ahtiainen, Lauri Laitinen, Siamak Naghian, Valtteri Niemi, UMTS Networks : Architecture, Mobility and Services, 2nd Edition, John Wiley & Sons Ltd, 2005

[4] http://septier.com/

Thứ Tư, 26 tháng 1, 2011

Tổng hợp ebook Lập Trình PHP và ASP!!!

cái này thì khỏi phải nói rồi ... 

 rất tuyệt cho lập trình
 




Hình ảnh chỉ mang tính chất minh họa!

Ngôn ngữ: VietNam 
Tài liệu này đơn thuần chỉ là giới thiệu về ngôn ngữ PHP và những cấu trúc lệnh có trong ngôn ngữ PHP nhưng chắc chắn nó sẽ là một nền tảng vững chắc, đáng tin cậy để các bạn tiếp tục tìm hiều sâu hơn về PHP.

Cái tên PHP ban đầu được viết tắt bởi cụm từ Personal Home Page, và được phát triển từ năm 1994 bởi Rasmus Lerdorf. Lúc đầu chỉ là một bộ đặc tả Perl, được sử dụng để lưu dấu vết người dùng trên các trang web. Sau đó, Rasmus Lerdorf đã phát triển PHP như là một máy đặc tả. Vào giữa năm 1997, PHP đã được phát triển nhanh chóng trong sự yêu thích của nhiều người. PHP đã không còn là một dự án cá nhân của Rasmus và đã trở thành một công nghệ web quan trọng. Zeev Suraski và Andi Gutmans đã hoàn thiện việc phân tích cú pháp cho ngôn ngữ để rồi tháng 6 năm 1998, PHP3 đã ra đời (có phần mở rộng là .php3). Cho đến tận thời điểm đó, PHP chưa một lần được phát triển chính thức, một yêu cầu việt lại bộ đặc tả được đưa ra, ngay sau đó PHP4 ra đời (có phần mở rộng là .php). PHP4 nhanh hơn so với PHP3 rất nhiều,PHP bây giờ được goi là PHP hypertext PreProcesor.







-Tài Liệu Lập Trình PHP & MySQL (Tiếng Việt - 631 trang PDF) - Thiết kế Web Động 


 





3CD - Video Học PHP & MySQL Tiếng Việt



Giới thiệu:
Đây là bộ video, bao gồm 3 CD, học lập trình PHP & MySQL bằng tiếng việt được viết bởi trường ĐH Khoa Học Tự Nhiên TP.HCM. Theo như mình đánh giá là có lẽ hiện nay video tiếng việt về php đầy đủ, xúc tích nhất có lẽ là bộ này, ngoài ra còn 1 bộ nữa của SSDG gì đó, mình cũng không rõ, nhưng làm rất dở, không hay. Bộ này có cũng lâu rồi, có lẽ ai đã từng mày mò nghiên cứu tự học qua PHP thì có lẽ cũng biết nó, nhưng mình vẫn cứ up lại lên đây cho mọi người ai cần thì down 


, ngoài ra chúng ta cũng nên lưu trữ ở diễn đàn chúng ta 1 bản 

.



Học PHP & MySQL Tiếng Việt - CD 1








 




Link Download CD1 - Bao gồm 3 Part:
Mã:


Code:

http://www.mediafire.com/?mzmtzjddmei
http://www.mediafire.com/?qnorim0tkzm
http://www.mediafire.com/?wnj3ncmzztg


Học PHP & MySQL Tiếng Việt - CD 2








 




Link Download CD2 - Bao gồm 3 Part:
Mã:


Code:

http://www.mediafire.com/?ojdmj424ymd
http://www.mediafire.com/?uqfdwmy21z5
http://www.mediafire.com/?hontnxwk41y


Học PHP & MySQL Tiếng Việt - CD 3








 




Link Download CD3 - Bao gồm 4 Part:
Mã:


Code:

http://www.mediafire.com/?ulh2eh1zmmn
http://www.mediafire.com/?yvzzymdmhgm
http://www.mediafire.com/?52zayzxjm2i
http://www.mediafire.com/?zmitdmtkdmm




- Tổng hợp 1 số ebook lập trình PHP và ASP cần tham khảo


 


Đây là nhưng quyển sách nên và cần phai đọc nếu muốn học lập trình 2 ngôn ngữ ASP &PHP. Chúc Thành Công 


no

Thứ Ba, 25 tháng 1, 2011

Sự phát triển và tương lai của Wi-Fi - Cong nghe MIMO

Công nghệ Wi-Fi xuất hiện lần đầu vào năm 1997. Ngày nay công nghệ này đã được phát triển rất mạnh và hiện đang ở chuẩn 802.11n. Trong loạt bài này chúng tôi sẽ giới thiệu cho các bạn một số kiến thức cơ bản về công nghệ này, song song với đó là một phác thảo vắn tắt về sự phát triển của nó.

 Giới thiệu

 
logo_abgn

 

 

Chuẩn 802.11 là chuẩn được sử dụng cho công nghệ Wi-Fi bắt đầu từ năm 1997 do Institute for Electrical and Electronics Engineers (IEEE) ban bố. Theo thời gian chuẩn này đã được phát và ngày nay chúng ta đang có phiên bản 802.11n.

Institute for Electrical and Electronics Engineers (IEEE)

Chúng ta hãy bắt đầu với giới thiệu vắn tắt về IEEE là gì. IEEE là một tổ chức khoa học nghề nghiệp được xây dựng nhằm mục đích hỗ trợ các hoạt động nghiên cứu khoa học, thúc đẩy sự phát triển khoa học công nghệ trong các lĩnh vực điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin, khoa học máy tính. Viện này gồm có nhiều kỹ sư điện và điện tử (nhiều người có bằng cấp cao đang làm việc tại các trường Đại học danh tiếng trên toàn thế giới), có thể nói họ là các chuyên gia trong từng lĩnh vực. Tổ chức các chuẩn này ra đời xuất phát từ sự cần thiết cần có các chuẩn được chấp thuận rộng rãi để bảo đảm khả năng tương thích giữa các thiết bị trên toàn thế giới. Đây chính là một trong những nhiệm vụ khó khăn nhất của IEEE, bảo đảm sự chấp thuận rộng rãi; một nhiệm vụ mà họ không phải lúc nào cũng thực hiện được. Các chuẩn được công bố bởi IEEE bao gồm tất cả các lĩnh vực kỹ thuật điện tử có liên quan đến mạng máy tính. Khi có ai đó phân tích các chuẩn, một điều quan trọng cần phải nhớ rằng hiệu suất thường không phải là mục tiêu thiết kế của các chuẩn. Trong thực tế, các chuẩn có thể không được hoàn hảo. Mặc dù vậy, như chúng tôi gợi ý ở trên, một chuẩn chỉ có giá trị nếu nó được chấp thuận rộng rãi; mục tiêu này chính là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình thiết kế các chuẩn.

Tiểu ban của IEEE mà loạt bài viết này giới thiệu về là tiểu ban LAN/MAN. Tiểu ban này đã được chỉ định bộ định danh 802, vì vậy mỗi một chuẩn được quyết định bởi tiểu ban này sẽ bắt đầu với bộ định danh 802. Chỉ số 11 trong 802.11 có nghĩa chuẩn có liên quan đến sự điều biến trong không gian; vì vậy tất cả các chuẩn 802.11 sẽ được công bố bởi tiểu ban 802 và sử dụng sự điều biến trong không gian. Bạn sẽ thường thấy chỉ số 802.11 và nhiều chuẩn khác cho chủ đề được viết cùng với thời gian phía sau bộ chỉ định, chẳng hạn như 802.11-1997. Thời gian được ghi này chính là thời điểm công bố chuẩn. Khi đưa ra một chuẩn, tiểu ban sẽ công bố những cập nhật mới nhất và thời gian này sẽ thay đổi theo công bố gần nhất. Thêm vào đó bạn cũng sẽ thường thấy các bộ định danh được miêu tả cùng với một chữ cái in thường, chẳng hạn như 802.11b. Ở đây các chữ cái in thường chỉ thị sự sửa đổi đối với chuẩn được công bố ban đầu. Trong trường hợp 802.11, chữ cái in thường được gán cho những sửa đổi đã được phê chuẩn nhằm trợ giúp công nghệ 802.11có được tốc độ lớn hơn, phạm vi rộng hơn, độ tin cậy tốt hơn, hoặc sự kết  hợp cả ba yếu tố trên.

802.11-1997

Chuẩn được công bố đầu tiên cho Wi-Fi là 802.11-1997, đây là chuẩn được công bố vào năm 1997. Các bạn cần phải nhớ rằng khi chúng tôi nói IEEE không phải lúc nào cũng thành công trong mục tiêu chấp thuận rộng rãi? Đây là một trường hợp như vậy. Chuẩn ban đầu đã nhận được rất ít sự thừa nhận. Một phần là do tốc độ bit thấp của nó chỉ khoảng 1 hoặc 2MB/s. Tốc độ bit thực sự phụ thuộc vào liên kết vật lý được sử dụng để truyền tải dữ liệu. Chuẩn 802.11-1997 đã cho phép ba công nghệ khác nhau có thể sử dụng:

  1. Hồng ngoại: Công nghệ cung cấp thông lượng 1 MB/s

  2. Frequency Hoping Spread Spectrum: Công nghệ cung cấp thông lượng 1 hoặc 2 MB/s.

  3. Direct Sequence Spread Spectrum: Công nghệ cũng cung cấp thông lượng 1 hoặc 2 MB/s.


Tỉ lệ chấp thuận thấp đối với chuẩn công nghệ này là do một phần tốc độ bit thấp, tuy nhiên nó cũng có một phần là sự đắt đỏ của công nghệ. Vào năm 1997, việc thiết kế các bộ thu và phát được yêu cầu để sử dụng chuẩn 802.11-1997 khá đắt tính trên đầu các máy tính, đặc biệt là các máy tính laptop, do khả năng di động của chúng yêu cầu cần phải có công nghệ Wi-Fi). Tuy nhiên về sau này, chuẩn 802.11 được cập nhật vào năm 1999 với các bộ định danh “a” và “b” đã nhận được sự đồng thuận nhiều hơn. Mặc dù 802.11a và 802.11b đều được phát hành đồng thời vào năm 1999 nhưng chỉ có 802.11b được chấp thuận một cách rộng rãi.

802.11a và 802.11b

802.11a là một chuẩn được cải thiện từ 802.11-1997. Trong khi 802.11-1997 chỉ có thể truyền tải dữ liệu với tốc độ 2MB/s thì 802.11a có thể truyền tải dữ liệu với tốc độ 54 MB/s. Việc tăng tốc độ truyền tải dữ liệu này là do sử dụng tần số 5GHz thay cho tần số 2.4GHz được sử dụng trong 802.11-1997 ( tần số được sử dụng cho các tùy chọn Frequency Hoping Spread Spectrum và the Direct Sequence Spread Spectrum; không có tùy chọn hồng ngoại). Ngoài việc tăng về tốc độ, một ưu điểm khác trong việc sử dụng tần số 5GHz là không có nhiều thiết bị sử dụng tần số này, vì vậy khả năng xuyên nhiễu giữa các thiết bị sẽ giảm. Mặc dù vậy việc sử dụng băng tần 5GHz cũng có một nhược điểm lớn. Do tần số 5GHz sử dụng sóng ngắn (tần số có tỷ lệ ngược với bước sóng; chính vì vậy tần số càng cao thì bước sóng sẽ càng ngắn) nên kỹ thuật này có phạm vi phủ sóng kém hơn và tín hiệu bị cản trở nhiều hơn bởi những vật cản như các bức tường; thậm chí không có nhiều bức tường nhưng nếu tín hiệu truyền trong không gian có nhiều đối tượng (bàn và ghế,…) cường độ tín hiệu bị suy giảm rất nhanh.

802.11b thừa hưởng Direct Sequence Spread Spectrum từ chuẩn 802.11-1997 ban đầu, cùng với tần số hoạt động 2.4 GHz. Việc tiếp tục sử dụng tần số 2.4 GHz có cả ưu điểm và nhược điểm. Ưu điểm ở đây là tần số này không bị điều chỉnh lại và vì vậy giá thành chi phí sản xuất sẽ rẻ hơn. Tuy nhiên nhược điểm là có nhiều thiết sử dụng sử dụng tần số này (điện thoại kéo dài, các bộ kiểm tra trẻ nhỏ), tất cả chúng đều có thể xuyên nhiễu lẫn nhau.

Thay đổi chủ yếu trong 802.11b là tốc độ dữ liệu tối đa. Tốc độ dữ liệu tối đa của 802.11b đạt khoảng 11MB/s, con số có thể so sánh với tốc độ Ethernet truyền thống ở những năm 1999 và 2000. Vơi tốc độ này, nhiều khách hàng có thể sử dụng Wi-Fi, thừa hưởng tất cả những ưu điểm về khả năng di động mà không bị các nhược điểm về tốc độ. Cùng với việc giảm được đánh kể giá thành trong công nghệ đã làm cho công nghệ 802.11b được sự chấp thuận một cách rộng rãi.

802.11g

Khi tốc độ Ethernet tăng, điều này đã tác động đến chuẩn 802.11. Vào năm 2003, IEEE đã phê duyệt chuẩn 802.11g. Chuẩn 802.11g này hoạt động ở tần số 2.4 GHz, giống như 802.11b và 802.11-1997, nhưng nó sử dụng kỹ thuật Orthogonal Frequency Division Multiplexing (OFDM) đã được sử dụng bởi 802.11a. Kỹ thuật OFDM này đã cho phép 802.11g hoạt động ở tốc độ 54 MB/s; một sự tăng đáng kể về tốc độ so với 802.11b là 11 MB/s. Giống như 802.11b, 802.11g cũng được chấp thuận một cách rộng rãi cho cả khách hàng và doanh nghiệp.

802.11n

802.11n là chuẩn mới nhất hiện nay, chuẩn này vừa được phê chuẩn vào tháng 9 vừa qua. 802.11n sử dụng một công nghệ mới để tăng tốc độ dữ liệu đó là Multiple Input / Multiple Output (MI-MO). Chúng tôi sẽ giới thiệu sâu cho các bạn về chuẩn 802.11n trong phần tiếp theo của loạt bài này, tuy nhiên các bạn có thể đoán ngay từ MI-MO rằng 802.11n sẽ làm việc với nhiều bộ thu phát và điều này đã cho phép nó tăng được tốc độ dữ liệu.

 

Giới thiệu

Trong phần trước của loạt bài này, chúng tôi đã bắt đầu giới thiệu về Viện các kỹ sư điện và điện tử - Institute for Electrical and Electronics Engineers (IEEE) và đã mô tả sự phát triển của công nghệ Wi-Fi. Trong phần hai này, chúng tôi sẽ giới thiệu công nghệ Wi-Fi trong hình thể gần đây nhất, được biết đến với chuẩn 802.11n.

MIMO

 Sự cách tân mới trong 802.11n chính là sự xuất hiện của anten Multiple Input Multiple Output (MIMO) trong các chuẩn Wi-Fi. Các cấu hình anten Wi-Fi trước chỉ sử dụng công nghệ Single Input Single Output (SISO). Như tên gợi ý của nó, MIMO có nghĩa rằng có nhiều anten để thu cũng như nhiều anten để phát dữ liệu. MIMO là một trong ba cấu hình chung được sử dụng cho công nghệ đa anten. Các cấu hình này, như thể hiện trong hình 1 là:

  1. Single Input Multiple Output (SIMO) – Một đầu vào, nhiều đầu ra

  2. Multiple Input Single Output (MISO) – Nhiều đầu vào, một đầu ra

  3. Multiple Input Multiple Output (MIMO) – Nhiều đầu vào, nhiều đầu ra


 
wifi

 

Hình 1: Các cấu hình anten khác nhau

Công nghệ MIMO có rất nhiều lợi ích đối với người dùng. Đầu tiên đó là trường hợp có nhiều người dùng cùng truy cập vào cùng một tài nguyên Wi-Fi. Cho ví dụ, trong văn phòng của bạn có thể có một nút Wi-Fi đặt ở phòng chờ, bạn và các đồng nghiệp của mình có thể kết nối đến nút này khi uống cafe sáng trong giờ nghỉ giải lao ở đó. Trước khi có chuẩn 802.11n, nếu có nhiều người dùng cùng truy cập vào một nút 802.11n, lúc này hiệu suất truy cập sẽ bị giảm một cách đáng kể. Còn với công nghệ mới này, mỗi anten có thể được gán cho một người dùng và tất cả người dùng (giả định rằng số lượng người dùng nhỏ hơn hoặc bằng số anten) sẽ không nhận thấy sự giảm về tốc độ truy cập.

Sự phân bố của anten

MIMO cũng có nhiều lợi ích khi chỉ có một người dùng. Chúng ta hãy quay trở lại kịch bản phòng chờ của văn phòng. Lúc này cho rằng chỉ có một người dùng đang truy cập vào nút Wi-Fi. Mặc dù một trong số các đồng nghiệp của bạn đang sử dụng điện thoại di động blackberry của họ thì vẫn có một lượng sóng ngắn đang được phát ra, hay thậm chí có ai đó đang sử dụng điện thoại không dây. Đây là một vấn đề cũ đối với Wi-Fi. Nó là tình huống mà trong đó chỉ có một người sử dụng Wi-Fi nhưng lại rất khó khăn trong việc nhận tín hiệu vì có quá nhiều tạp âm trong môi trường (tạp âm điện từ trường). MIMO có thể trung hòa sự xuyên nhiễu này bằng cách gửi đi cùng một tín hiệu đến cùng người dùng nhưng trên nhiều anten. Người dùng nhận các tín hiệu này có thể so sánh một trong các tín hiệu với nhau, sau đó quyết định xem tín hiệu nào là thực (tín hiệu trước khi bị xuyên nhiễu).

Phương pháp cho việc đếm sự xuyên nhiễu tín hiệu này được gọi là phân bố anten. Có 5 cách chung để thực hiện sự phân bố này.

Phân bố theo không gian

Khi một ứng dụng sử dụng một anten phân bố theo không gian thì trạm gốc phải có nhiều anten, các anten này được đặt tách biệt nhau về mặt vật lý. Thông thường các anten này sẽ có cùng các đặc tính. Khoảng cách giữa các anten có thể bất kỳ. Nhưng thường thì khoảng cách này tương đương với độ dài bước sóng của tín hiệu được phát đi. Trong một số trường hợp khác, anten có thể được đặt cách nhau đến vào dặm. Đây là lược đồ phân bố anten thường được sử dụng nhất là bạn sẽ thấy trong các trạm gốc Wi-Fi 802.11n.

Phân bố theo kiểu dáng

Sự phân bố theo kiểu mẫu thường được sử dụng nhất với các anten định hướng. Trong lược đồ phân bố anten này, nhiều anten định hướng sẽ được đặt gần với anten có kiểu mẫu bức xạ khác. Lược đồ này có thể cung cấp hiệu suất tốt hơn khi đem so với các lược đồ đang sử dụng một anten đa hướng.

Phân bố theo độ phân cực

Sự phân bố theo độ phân cực gồm có một cặp (hoặc nhiều cặp) anten, mỗi cặp có một phân cực đối diện. Vì các tín hiệu được phát từ một trong các anten này có phân cực đối diện diện nên sự xuyên nhiễu bởi các tín hiệu cũng sẽ khác. Chính vì vậy bộ thu sẽ có khả năng nhận tín hiệu tốt hơn, hoặc tối thiểu bộ thu có thể sử dụng cả hai tín hiệu để xây dựng lại sự truyền phát ban đầu.

Phân bố theo mảng thích nghi

Mảng thích nghi gồm có một mảng các anten có thể thay đổi các kiểu phân cực của chúng một cách dễ dàng. Kiểu anten này rất đắt và yêu cầu rất nhiều sự điều khiển, và điều này càng làm cho giá thành của chúng đắt lên. Với lý do này, kiểu anten này hầu như khó phù hợp với công nghệ Wi-Fi.

Phân bố thu/phát

Sự phân bố thu/phát có thể xuất hiện khi một trạm gốc có một anten phát và một anten khác để thu. Không có nhiều ưu điểm về thu phát trong lược đồ này, mặc dù vậy nó có thể tiết kiệm được nhiều chi phí và không cần bộ ghép song công duplexer.

Các lợi ích trong tương lai

Ở trên chúng tôi đã đề cập rằng MIMO sẽ đem lại nhiều lợi ích đến người dùng. Nhưng những lợi ích kể trên vẫn chưa đủ, MIMO vẫn có nhiều lợi ích khác.

Dirty Paper Coding

Một công nghệ mà chúng tôi cảm thấy rất thú vị đó là công nghệ mang tên Dirty Paper Coding (DPC). Về cơ bản DPC là một vấn đề toán học và có liên quan đến việc mã hóa các tín hiệu trước khi truyền tải. Trước khi giải thích về DPC là gì, hãy cho phép chúng tôi giải thích công nghệ này sẽ giải quyết vấn đề gì. Chúng ta hãy quay trở lại kịch bản phòng chờ của văn phòng , nơi đang có bạn và một số đồng nghiệp của bạn đang truy cập vào trạm gốc. Như tôi đã giải thích trước, MIMO cho phép mỗi anten được gán cho mỗi một người dùng để mỗi người dùng sẽ sử dụng anten trạm gốc của riêng mình. Tuy nhiên điều này làm cho các tín hiệu sẽ xuyên nhiễu lẫn nhau và làm giảm phạm vi truyền tải. Lúc này DPC có nhiệm vụ sẽ giải quyết vấn đề. Về cơ bản, thuyết DPC cho chúng ta hiểu rằng, nếu bạn biết cả hai tín hiệu đang được phát thì bạn sẽ biết sự xuyên nhiễu và có thể thay đổi các tín hiệu để bộ nhận sẽ nhận được tín hiệu dự định.

Điều này nghe có vẻ đơn giản nhưng trong thực tế lại không diễn ra như vậy. Đó là vì nếu bạn thay đổi một trong số các tín hiệu thì nhiễu cũng thay đổi, từ đó yêu cầu bạn thay đổi tín hiệu khác, và lại tiếp tục làm thay đổi nhiễu. Vì vậy với các tín hiệu phức tạp đang được phát trên trạm gốc Wi-Fi, sẽ rất khó tính toán những thay đổi được yêu cầu cho DPC. Thậm chí còn khó hơn để thực hiện đủ nhanh để người dùng không thấy sự chậm trễ.

Đa nguồn cho một người dùng

Đa nguồn cho một người dùng (MSSU) có nghĩa rằng trong trường hợp này chỉ có một người dùng kết nối đến một trạm gốc MIMO. Lúc này, thay vì mỗi một anten phát đi một bản copy dữ liệu giống nhau, dữ liệu có thể được phân chia và mỗi một anten có thể phát đi một phần dữ liệu để rồi sau đó có thể lắp ráp lại bởi bộ nhận. Theo lý thuyết của phương pháp này, người dùng có thể nhận cùng một số lượng dữ liệu trong phần nửa thời gian.

Thứ Hai, 24 tháng 1, 2011

Các Cổng Logic

Môn học kỹ thuật điện tử số cho ta hiểu được các mạch số cơ bản và phương pháp thiết kế một mạch số đơn giản. Vì vậy môn kỹ thuật số là môn cơ sở để cho ta tiến tới các môn học khác như là vi điều khiển, mạch điện tử....Hôm nay tôi sẽ trình bày cơ bản về các cổng Logic mà ta thường hay dùng nhưng cổng này trong mạch điện tử hay được sử dụng! Có 7 loại hàm trong mạch số :NOT, AND, OR, NOR, NAND , XOR , NXOR.

Chú ý : Chúng ta không thể mua được 1 cổng logic ví dụ như AND ngoài thị trường được mà chúng ta phải mua từ 4 con cổng AND đóng trong cùng 1 vỏ IC. Tại sao lại như vậy thì họ tính giá thành theo cách đóng vỏ IC.
Một số quy định về mức 0 và mức 1 :

+ Nếu IC của TTL thì điện áp vào là 5V khi đó mức 1 = 5V và mức 0 là = 0V.
+ Nếu IC của CMOS thì điện áp đầu vào Vdd = 3V - 18V nên mức 1 = Vdd và mức 0 = 0V.

1) Cổng NOT

Kí hiệu và bảng chân lý IO được thể hiện ở hình a và b. Nguyên tắc hoạt động của nó dựa vào hiện tượng phân cực của BJT!

Cái hàm này không cần phải bàn nhiều. Nó chỉ có 1 đầu vào và 1 đầu ra. Đầu vào 0 cho đầu ra bằng 1 và ngược lại

2) Cổng AND.

Hình vẽ và cấu tạo của cổng AND .

Ký hiệu của cổng AND được thể hiện trên hình vẽ hình (a) và nó được đọc A && B và kí hiệu của nó trong các mạch điện như trên hình (a). Để xét đến cổng AND này nó hoạt động thế nào bây giờ ta nhìn sơ đồ cấu trúc bên trong của con AND này. Cổng AND có hai đầu vào A,B và 1 đầu ra là tích số của A và B (Y = A.B)
Cấu tạo của nó gồm 2 con Diode và 1 con điện trở và sơ đồ cấu tạo của nó được lắp như trên hình (b).
Nguyên lý hoạt động của nó như sau : Nhìn trên hình (b) ta thấy được là nếu đầu vào A và B mà là ở mức 1 (5V) khi đó hai D1 và D2 được phân cực nghịch nên không có dòng chạy qua hai diode này nên ở A.B sẽ có điện áp bằng điện áp 5V (Mức 1). Nếu A ở mức 1 và B ở mức 0 lúc này D1 được phân cực nghịch và B được phân cực thuận nên dòng từ điện trở qua D2 làm cho ở A.B ko có dòng điện ==> A.B = 0 (0V). Tiếp tục nếu A mà ở 0V còn B ở mức 1 thì lúc này D1 được phân cực thuận và D2 được phân cực nghịch, dòng điện sẽ từ điện trở qua D1 cũng làm cho A.B ko có dòng điện ==>A.B = 0 (0V). Trường hợp cuối cả hai đầu A và B đều ở mức 0 (0V) thì cả hai diode D1 và D2 đều phân cực thuận nên dẫn dòng từ điện trở qua 2 diode làm cho đầu A.B ko có dòng điện ==> A.B = 0 (0V).
Bảng chân lý giá trị IO của cổng AND được thể hiện như hình (c).
Hình (d) là giản đồ xung đầu vào và giản đồ xung đầu ra của cổng AND.
Qua đó cho ta nhận thấy rằng là chỉ có đầu vào A = B = 1 thì cho đầu ra mức 1 và các trường hợp còn cho ta ở mức 0.

3 ) Cổng OR

Hình vẽ và cấu tạo của cổng OR.

Kí hiệu của cổng OR được thể hiện trên hình vẽ (a) và nó được đọc là a|| b. Và nó cũng có hai tín hiệu đầu vào và 1 tín hiệu đầu ra (Y = A+ B)
Để xem con cổng OR này hoạt động như thế nào ta phải xem xét đến cấu trúc mạch bên trong của con cổng OR này. Sơ đồ cấu tạo bên trong của nó thể hiện như trên hình (b). Nó cấu tạo khá là đơn giản như mạch cổng AND nhưng cách lắp linh kiện có hơi ngược so với AND cũng chỉ gồm 1 con điện trở và 2 con diode. Một đầu điện trở được nối với (-) và một đầu được nối với đầu ra với chung (K) với hai diode.
Nguyên lý hoạt động như sau : Nếu cả hai đầu vào A và B đều ở mức 1 thì lúc này 2 diode được phân cực thuận và dòng điện sẽ qua diode khi đó tại đầu ra A và B sẽ ở mức 1 (5V) . Dòng điện không đi xuống GND vì điện trở ở đây có trở kháng lớn.Nếu Đầu A ở mức 1 và B ở mức 0 thì D1 được phân cực thuận và D2 được phân cực nghịch. Khi đó có dòng chạy qua D1 mà không qua D2 nên A+B vẫn ở mức 1. Còn nếu A ở mức 0 và B ở mức 1 lúc đó có dòng điện chạy qua D2 mà ko có dòng chạy qua D1 nên A + B vẫn ở mức 1. Trong trường hợp cuối thì A và B đều ở mức 0 và đầu ra A+ B ở mức 0 bởi vì khi đó 2 diode phân cực nghịch không cho dòng chạy qua diode nên A+ B không có dòng điện.
Hình (c) là bảng chân lý giá trị vào ra của cổng OR
Hình (d) là giản đồ xung và giản đồ xung đầu ra của cổng OR.
Qua đó ta cũng có 1 nhận xét chỉ có A = B = 0 thì mới cho A+B = 0 còn các các trường hợp còn lại đều cho 1.

4 ) Cổng NOR.

Hình vẽ và cấu tạo của NOR.

Tôi kí hiệu phủ định của NOR của A+B là 1/A+B
Hình a thể hiện kí hiệu của cổng Logic với cũng hai đầu vào A ,B và 1 đầu ra bằng phủ định của A+B (Y = 1/A+B). Hiểu ngầm ở đây nó là hàm phủ định của hàm OR.
Con NOR nó cấu tạo hơi khác so với OR và AND là ở chỗ là nó có thêm 1 con BJT. Và tín hiệu được lấy ra tại chân Colector của BJT. Cấu tạo của nó gồm : 3 điện trở, 2 diode , 1 BJT và BJT ở đây là BJT kênh N. Kiểu lắp mạch nó được lắp theo hình b. Nhìn vào hình vẽ ta có thể hiểu được nguyên lý hoạt động như thế nào:
Nếu A = 0 và B = 0 thì hai hai diode không được phân cực không dẫn dòng nên tại cực Bazo của BJT cũng không được phân cực vì là 0V (Điều kiện để phân cực thuận cho BJT là Ube>0V) khi đó BJT ở trạng thái khóa nên tại đầu ra của Bazo 1/A+B là ở mức 1. Còn các trường hợp còn lại cho A=0 và B=1 hay ngược lại và A=B=1 thì khi đó sẽ có 1 hoặc hai diode được phân cực dẫn dòng qua diode khi đó Bazo sẽ xuất hiện dòng điện từ A hoặc B làm cho BJT phân cực khi đó BJT sẽ mở và làm cho dòng điện tử 5V qua điện trở đi xuống toàn bộ GND nên tại đầu ra của 1/A+B không có dòng điện nên nó ở mức 0.
Hình c là bảng chân lý các giá trị của cổng NOR.
Hình d là giản đồ xung đầu vào và đầu ra của cổng NOR.
Lại có 1 sự nhận xét ở đây là chỉ có A=0 và B= 0 cho đầu ra ở mức 1 và các trường hợp còn lại cho đầu ra ở mức 0.

5) Cổng NAND

Kí hiệu , sơ đồ của NAND.

Tôi kí hiệu giá trị đầu ra của NAND là 1/A.B
Nhìn hình a là kí hiệu của cổng NAND trong các sơ đồ mạch. Nó cũng có 2 đầu vào và 1 đầu ra và giá trị đầu ra bằng phủ định của tích đầu vào A và B (Y = 1/A.B) và nó cũng tương tự như hàm NOR hầm hiểu là phủ điịnh của hàm AND.
Cấu tạo của cổng này hơi khác só với các cổng khác là nó hẳn 3 diode và 2 điện trở và kết hợp với 1 transitor. Cách lớp kiểu sơ đồ này được lắp theo hình c.Nên nhớ ở đây là BJT kênh N. Và nguyên tắc hoạt độngc ủa nó như sau:
Nếu A = 1 và B = 1 . Như vậy thì hai diode D1 và D2 sẽ phân cực nghịch không dẫn dòng khi đó D3 lại dẫn dòng từ nguồn vào Baze làm cho BJT phân cực thuận và mở hoàn toàn BJT nên khi đó dòng điện lại từ nguồn qua Colector xuống Emiter xuống đất làm cho đầu ra 1/A.B không có điện áp nên nó bằng 0V.
Nếu các trường hợp A=B=0 và A=1,B=0 hay B=1, A=0 thì lúc này hai diode D1 và D2 đều được phân cực trong từng trường hợp nên dòng điện từ nguồn qua một trong hai diode D1 và D2 xuống đất ==> không có dòng điện qua D3 do đó BJT không được phân cực khóa hoàn toàn BJT nên đầu ra của 1/A.B = 1.
Hình b là bảng biểu diễn ra trị vào ra của NAND
Hình d là bảng xung đầu vào và đầu ra của NAND
NHận xét rằng là cái cổng này là phủ định của cổng NAND.

Còn hai hàm nữa tôi thấy nó cũng ít dùng nên tôi không đề cập đến ở đây. Đó là các hàm XOR và NXOR. Nếu cần các bạn có thể tìm hiểu sau.
Chú ý :Hình ảnh ở trên tôi tham khảo hình ảnh của nước ngoài để tăng thêm dễ hiểu thôi!

Hướng dẫn tạo Timer trong Psoc.

Psoc khác với các dòng vi xử lý khác là nó phải thiết lập bằng cứng không bằng mền như dòng vi xử lý khác như là 8501, Pic, AVR nên chính điều này đã gây khó khăn cho người mới học Psoc. Nên hôm nay tôi hướng dẫn các pác tạo bộ Timer trong Psoc trong thiết lập phần cứng.
+ Bước 1 : Các pác khởi tạo chương trình và phần thiết lập của nó có giao diện như thế này :




Các pác vào giao diện như thế này để thiết lập cho bộ Timer
+ Bước 2 : Lấy bộ Timer như hình vẽ sau :




ở trên thì ở chỗ khoanh tròn màu đỏ đấy thì bên trái nó là User Module Types và bên phải là User Module. Bên trái là chọn kiểu module như Timer, PWM... Còn bên phải là chọn moudule sử dụng. Ví dụ như trên thì bộ Timer có Timer 8 bit, Timer 16 bit, Timer 32. Các bạn chọn các kiểu timer bằng select ( dấu chữ thập bên cạnh chỗ chọn các kiểu module)
+ Bước 3 : Nhấn chọn Timer như hình vẽ sau :




Kích chuột phải vào Module Timer đó sau đó chọn Place như hình vẽ trên sau đó nó sẽ xuống chỗ khối như hình sau đây




+ Bước 4 : Thiết lập các nguồn Clock khác nhau để đưa vào Timer.




ở phần này đầu tiên ta phải thiết lập clock đầu vào cho Timer. Thiết lập trên chỗ khoanh tròn trên hình vẽ. Các thông số quan trọng như tôi thiết lập trên như sau :
+ Power Setting[Vcc/Sýclk freq] : Đây là nguồn đầu vào và tần số ở đây chọn chuẩn 5V và tần số 24Mhz
+ CPU _clock : cái này là tần số thực thi lệnh của vi xử lý. Nó có nhiều tần số khác nhau. như trên là nó chia 8 như vậy tần số thực thi lệnh là 3Mhz.
+ VC1 : là nguồn Clock. Giá trị của nguồn này được tính như sau : VC1 = Sysclk/N. Sysclk được chọn như trên là 24Mhz và hệ số N bạn chọn để chia nó ra ( N lớn nhất là 16)
+ VC2 : Tương tự như VC1. Nhưng nguồn VC2 được lấy từ VC1 và được chia tiếp hệ số N ( Nmax = 16)
+ VC3 : Nguồn này được lấy tù VC1 hay VC2 hay sysclk để chia ra tiếp hệ số nữa và hệ số chia lớn nhất là 256. Để có nguồn clock VC3 nhỏ hơn nữa.
Đấy là thiết lập các nguồn clock khác nhau từ nguồn clock chính.
+ Bước 5: Thiết lập các thông số cho bộ Timer. Có 2 cách thiết lập là thiết lập trực tiếp trên khối và thiết lập theo các bảng chọn thông số như hình vẽ sau :





Như hình trên thì Timer nó cần 1 clock đầu vào để nó đếm số xung và đưa ra thời gian chính xác dựa vào xung đầu vào. Đầu vào nó có nhiều dạng clock với tần số khác nhau. Đầu vào nó có thể là VC1, VC2, VC3...và các thông số liên quan nó nằm ở khoanh tròn bên tay trái. Và được biểu hiện ở các khối bên phải. Do timer dùng nguồn clock trong nó chỉ tạo ra thời gian thực và không kết nối với đầu ra. Các thống số các pác thiết lập như kiểu trên hình vẽ.

Ví dụ : Tính toán thiết lập khối Timer để tạo ra Timer có thời gian là 0.1s.
Như thông số tôi đã chọn ở trên tôi chọn Timer 8 bit. Theo datasheet thì nó có công thức tính thời gian của Timer như sau


OutputPeriod = SourceClockPeriod x (PeriodRegisterValue + 1)


Ở công thức trên nó có 2 giá trị mà ta phải quan tâm là SourceClockPeriod (đầy là nguồn clock đầu vào của Timer) và PeriodRegisterValue ( Giá trị của thanh ghi đặt vào Timer)
Như trên tính toán được thì SourceClockPeriod là nguồn đầu vào VC3 tính như sau : VC1 = 24Mhz/15 ; VC2 = VC1/16 ; VC3 = VC2/100 như vậy nguồn clock VC3 là 1Khz. Theo công thức trên thì giá tị thanh ghi đặt vào timer phải là 100 mới tạo được ra 0.1s.
Trong chương trình các bạn khai báo như sau :


Timer8_1_WritePeriod(100); //dat thoi gian la 0.1s
Timer8_1_WriteCompareValue(0);
Timer8_1_EnableInt();
Timer8_1_Start();


Như vậy là tạo thành công bộ Timer trong Psoc. Đây chỉ là bộ Timer 8 bit nếu các bạn muốn thời gian dài hơnt hì dùng Timer 16,32 bit. Khi đó giá trị thanh ghi sẽ nhiều hơn và tạo được ra thời gian nhiều hơn. Chúc vui.



Tiếp theo để biết ngắt timer nó hoạt động như thế nào chúng ta hãy viết thử 1 bài xử dụng ngắt Timer đơn giản!
Yêu cầu : tạo chính xác thời gian LED nhấp nháy với 1s sáng và 1s tắt. LED được nối vào P0.6. LED đựoc mắc nối tiếp với điện trở để hạn dòng (330 ôm) lắp ở chế độ hút dòng!
Với cấu hình timer cho được 1s và P0.6 được cấu hình là Strong nên ta có chương trình như sau :
Code:
//----------------------------------------------------------------------------
// Test ngat Timer
// Viet boi : biendt
// yc: Dieu khien LED o chan P0.6. 1 s sang va 1s tat
//----------------------------------------------------------------------------

#include // part specific constants and macros
#include "PSoCAPI.h" // PSoC API definitions for all User Modules
unsigned char flag=0;

#pragma interrupt_handler Timer16_1_ISR
void Timer16_1_ISR()
{
flag++;
if(flag==3) flag=1;
}

void Timer_int()
{
Timer16_1_WritePeriod(1000); // Timer = 1s
Timer16_1_WriteCompareValue(0);
Timer16_1_EnableInt(); // Xay ra ngat Timer
M8C_EnableGInt; // CHo ngat toan cuc
Timer16_1_Start();
}

void main()
{
Timer_int();
PRT0DR=0xff;
while(1)
{
if(flag==1)

PRT0DR=0xbf; // sang P0.6
else if (flag==2) PRT0DR=0x40;
}
}
 



Đối với code trên tôi dùng một biến cờ flag mỗi khi ngắt xẩy ra thì tôi bật biến flag đó lên. Mỗi lần ngắt tăng lên 1. Tăng đến 3 thì trở về 1. Mỗi giá trị biến cờ mà ngắt trả về thì ta sẽ có tương ứng LED sáng và tắt. 







Chủ Nhật, 23 tháng 1, 2011

Tổng quan về ADSL(Asymmetric Digital Subscriber Line)

1. Khái niệm

ADSL là viết tắt của Asymmetric Digital Subscriber Line - đó là đường thuê bao số không đối xứng. ADSL là sự thay thế với tốc độ cao cho thiết bị Modem hoặc ISDN giúp truy nhập Internet với tốc độ cao và nhanh hơn.

Các biểu đồ sau chỉ ra các tốc độ cao nhất có thể đạt được giữa các dịch vụ cung cấp

 

 

 

 

 

Asymmetric: Tốc độ truyền không giống nhau ở hai chiều. Tốc độ của chiều xuống (từ mạng tới thuê bao) có thể nhanh gấp hơn 10 lần so với tốc độ của chiều lên (từ thuê bao tới mạng). Ðiều này phù hợp một cách tuyệt vời cho việc khai thác dịch vụ Internet khi mà chỉ cần nhấn chuột (tương ứng với lưu lượng nhỏ thông tin mà thuê bao gửi đi) là có thể nhận được một lưu lượng lớn dữ liệu tải về từ Internet.

Digital: Các Modem ADSL hoạt động ở mức bít (0 & 1) và dùng để chuyển thông tin số hoá giữa các thiết bị số như các máy tính PC. Chính ở khía cạnh này thì ADSL không có gì khác với các Modem thông thường.

Subscriber Line: ADSL tự nó chỉ hoạt động trên đường dây thuê bao bình thường nối tới tổng đài nội hạt. Ðường dây thuê bao này vẫn có thể được tiếp tục sử dụng cho các cuộc gọi đi hoặc nghe điện thoại cùng một thời điểm thông qua thiết bị gọi là "Splitters" có chức năng tách thoại và dữ liệu trên đường dây. 

Chức năng của ADSL


ADSL xác lập cách thức dữ liệu được truyền giữa thuê bao (nhà riêng hoặc công sở) và tổng đài thoại nội hạt trên chính đường dây điện thoại bình thường. Chúng ta vẫn thường gọi các đường dây này là local loop.

 

 

Thực chất của ứng dụng ADSL không phải ở việc truyền dữ liệu đi/đến tổng đài điện thoại nội hạt mà là tạo ra khả năng truy nhập Internet với tốc độ cao. Như vậy, vấn đề nằm ở việc xác lập kết nối dữ liệu tới Nhà cung cấp dịch vụ Internet. Mặc dù chúng ta cho rằng ADSL được sử dụng để truyền dữ liệu bằng các giao thức Internet, nhưng trên thực tế việc thực hiện điều đó như thế nào lại không phải là đặc trưng kỹ thuật của ADSL. Hiện nay, phần lớn người ta ứng dụng ADSL cho truy nhập Internet tốc độ cao và sử dụng các dịch vụ trên Internet một cách nhanh hơn.

2. Cơ chế hoạt động với ADSL


Hoạt động của ADSL?

ADSL tìm cách khai thác phần băng thông tương tự còn chưa được sử dụng trên đường dây nối từ thuê bao tới tổng đài nội hạt. Ðường dây này được thiết kế để chuyển tải dải phổ tần số (frequency spectrum) chiếm bởi cuộc thoại bình thường. Tuy nhiên, nó cũng có thể chuyển tải các tần số cao hơn dải phổ tương đối hạn chế dành cho thoại. Ðó là dải phổ mà ADSL sử dụng.

 

 

Thoại cơ bản sử dụng dải tần số từ 300Hz tới 3,400Hz.


Bây giờ chúng ta sẽ xem xét, thoại và dữ liệu ADSL chia xẻ cùng một đường dây thuê bao ra sao. Trên thực tế, các Splitter được sử dụng để đảm bảo dữ liệu và thoại không xâm phạm lẫn nhau trên đường truyền. Các tần số mà mạch vòng có thể chuyển tải, hay nói cách khác là khối lượng dữ liệu có thể chuyển tải sẽ phụ thuộc vào các nhân tố sau:

- Khoảng cách từ tổng đài nội hạt.

- Kiểu và độ dầy đường dây.

- Kiểu và số lượng các mối nối trên đường dây.

- Mật độ các đường dây chuyển tải ADSL, ISDN và các tín hiệu phi thoại khác.

- Mật độ các đường dây chuyển tải tín hiệu radio.

3. ƯU ĐIỂM CỦA ADSL

So sánh ADSL với PSTN & ISDN

  • PSTN và ISDN là các công nghệ quay số (Dial-up).

  • ADSL là 'liên tục/always-on" kết nối trực tiếp.

  • PSTN và ISDN cho phép chúng ta sử dụng Fax, dữ liệu, thoại, dữ liệu tới Internet, dữ liệu tới các thiết bị khác.

  • ADSL chỉ chuyển tải dữ liệu tới Internet.

  • PSTN và ISDN cho phép chúng ta tuỳ chọn ISP nào mà ta muốn kết nối.

  • ADSL kết nối chúng ta tới một ISP định trước.

  • ISDN chạy ở tốc độ cơ sở 64kbps hoặc 128kbps.

  • ADSL có thể tải dữ liệu về với tốc độ tới 8Mbps.

  • PSTN ngắt truy nhập tới Internet khi chúng ta thực hiện cuộc gọi.

  • ADSL cho phép vừa sử dụng Internet trong khi vẫn có thể thực hiện cuộc gọi đồng thời.

  • Kết nối Internet qua đường PSTN và ISDN bằng phương thức quay số có tính cước nội hạt.

  • ADSL không tính cước nội hạt.


Ghi chú:

  • Mặc dù Modem ADSL luôn ở chế độ kết nối thường trực, nhưng vẫn có thể cần phải thực hiện lệnh kết nối Internet trên máy PC.

  • Các dịch vụ như Fax và thoại có thể được thực hiện cũng trên kết nối dữ liệu ADSL tới Internet.

  • Trên thực tế, tốc độ Download tiêu biểu đối với dịch vụ ADSL gia đình thường đạt tới (up to) 400kbps

  • Dùng bao nhiêu, trả bấy nhiêu. Cấu trúc cước theo lưu lượng sử dụng (Hoặc theo thời gian sử dụng).

  • Không hạn chế số người sử dụng khi chia sẻ kết nối Internet trong mạng


4. Các thành phần của ADSL

 

 

Trong phần này chúng ta sẽ lần lượt mô tả chức năng của từng thành phần của ADSL, bắt đầu từ Modem ADSL tới Nhà cung cấp dịch vụ Internet. Chúng ta cũng xem xét ở phía ISP để lọc ra những thành phần cơ bản mà họ sử dụng để cung cấp dịch vụ ADSL.

 

 

Các thành phần phía thuê bao

a. Modem ADSL

Modem ADSL kết nối vào đường dây điện thoại (còn gọi là local loop) và đường dây này nối tới thiết bị tổng đài nội hạt. Modem ADSL sử dụng kết hợp một loạt các kỹ thuật xử lý tín hiệu tiên tiến nhằm đạt được tốc độ băng thông cần thiết trên đường dây điện thoại thông thường với khoảng cách tới vài km giữa thuê bao và tổng đài nội hạt. Modem ADSL làm việc như thế nào?

ADSL hoạt động bằng cách vận hành cùng lúc nhiều Modem, trong đó mỗi Modem sử dụng phần băng thông riêng có thể.

 

 

Sơ đồ trên đây chỉ mô phỏng một cách tương đối, nhưng qua đó ta có thể nhận thấy ADSL sử dụng rất nhiều Modem riêng lẻ hoạt động song song để khai thác băng thông tối đa và cung cấp một tốc độ rất cao. Mỗi đường kẻ sọc đen ở trên thể hiện một Modem và chúng hoạt động tại các tần số hoàn toàn khác nhau. Trên thực tế có thể tới 255 Modem hoạt động trên một đường ADSL. Ðiểm đặc biệt ở chỗ ADSL sử dụng dải tần số từ 26kHz tới 1.1MHz trong 10MHz của băng thông thoại. Tất cả 255 Modems này được vận hành chỉ trên một con chíp đơn. Lượng dữ liệu mà mỗi Modem có thể truyền tải phụ thuộc vào các đặc điểm của đường dây tại tần số mà Modem đó chiếm. Một số Modem có thể không làm việc một chút nào vì sự gây nhiễu từ nguồn tín hiệu bên ngoài chẳng hạn như bởi một đường dây (local loop) khác hoặc nguồn phát vô tuyến nào đó. Các Modem ở tần số cao hơn thông thường lại truyền tải được ít dữ liệu hơn bởi lý ở tần số càng cao thì sự suy hao càng lớn, đặc biệt là trên một khoảng cách dài.

b. Mạch vòng / Local Loop là gì ?

'Local loop' là thuật ngữ dùng để chỉ các đường dây điện thoại bình thường nối từ vị trí người sử dụng tới công ty điện thoại.

 

 

Nguyên nhân xuất hiện thuật ngữ local loop - đó là người nghe (điện thoại) được kết nối vào hai đường dây mà nếu nhìn từ tổng đài điện thoại thì chúng tạo ra một mạch vòng local loop.

Các thành phần ADSL phía nhà cung cấp dịch vụ

 

 

Như chỉ ra trong khối vàng ở trên, phạm vi Nhà cung cấp dịch vụ gồm có ba thành phần quan trọng

  • DSLAM - DSL Access Multiplexer.

  • BAS - Broadband Access Server.

  • ISP - Internet Service Provider.


a. DSLAM

DSLAM là thiết bị có thể tập hợp nhiều kết nối thuê bao ADSL - có thể nhiều tới hàng trăm thuê bao - và tụ lại trên một kết nối cáp quang. Sợi cáp quang này thường được nối tới thiết bị gọi là BAS - Broadband Access Server, nhưng nó cũng có thể không nối trực tiếp tới BAS vì BAS có thể được đặt tại bất cứ đâu.

 

 

DSLAM là thiết bị đặt ở phía tổng đài, là điểm cuối của kết nối ADSL. Nó chứa vô số các Modem ADSL bố trí về một phía hướng tới các mạch vòng và phía kia là kết nối cáp quang.

b. BAS (Broadband Access Server)

 

 

BAS là thiết bị đặt giữa DSLAM và POP của ISP. Một thiết bị BAS có thể phục vụ cho nhiều DSLAM. Các giao thức truyền thông được đóng gói để truyền dữ liệu thông qua kết nối ADSL, vì vậy mục đích của BAS là mở gói để hoàn trả lại các giao thức đó trước khi đi vào Internet. Nó cũng đảm bảo cho kết nối của bạn tới ISP được chính xác giống như khi bạn sử dụng Modem quay số hoặc ISDN. Như chú giải ở trên, ADSL không chỉ rõ các giao thức được sử dụng để tạo thành kết nối tới Internet. Phương pháp mà PC và Modem sử dụng bắt buộc phải giống như BAS sử dụng để cho kết nối thực hiện được. Thông thường ADSL sử dụng hai giao thức chính là :

  • PPPoE - PPP over Ethernet Protocol.

  • PPPoA - Point to Point Protocol over ATM.


5.Kết nối mạng

Các thành phần kết nối như thế nào?

Dưới đây sẽ trình bày về những giao thức truyền thông được sử dụng trên kết nối ADSL. Khi kết nối vào Internet, bạn sử dụng các giao thức chạy ở tầng vận chuyển TCP/IP (chẳng hạn như HTTP - giao thức được sử dụng bởi các Web Browser). Quá trình này là giống nhau với các kiểu truy nhập quay số qua PSTN, ISDN và ADSL.

a. Các giao thức được sử dụng giữa Modem và BAS

Khi quay số PSTN/ISDN để truy nhập vào Internet, chúng ta sử dụng giao thức gọi là PPP để vận chuyển dữ liệu TCP/IP và kiểm tra cũng như xác thực tên và mật khẩu người truy nhập. Trong ADSL, PPP cũng thường được sử dụng để kiểm tra tên và mật khẩu truy nhập, và ATM thì luôn được sử dụng ở mức thấp nhất. Kết nối điển hình như dưới đây :

 

 

 

b. Vai trò của ATM

 

 

 

ATM - Asynchronous Transfer Mode - được sử dụng như là công cụ chuyển tải cho ADSL ở mức thấp. Lý do vì đó là cách thuận tiện và mềm dẻo đối với các công ty thoại muốn kéo dài khoảng cách kết nối từ DSLAM tới BAS giúp họ có thể đặt BAS ở bất cứ đâu trên mạng. Các tham số thiết lập cấu hình ATM Có hai tham số cần phải thiết lập cấu hình một cách chính xác trên Modem ADSL để đảm bảo kết nối thành công tại mức ATM với DSLAM:

  • VPI - the Virtual Path Identifier.

  • VCI - the Virtual Channel Identifier.


6. Cấu trúc của ADSL


 

 

Vai trò của PPP

PPP là giao thức dùng để vận chuyển lưu lượng Internet tới ISP dọc theo các kết nối Modem và ISDN. PPP kết hợp chặt chẽ các yếu tố xác thực - kiểm tra tên/mật khẩu - và đó là lý do chính mà người ta dùng PPP với ADSL. Mặc dù BAS thực thi giao thức PPP và tiến hành việc xác thực, nhưng thực ra việc đó được thực hiện bằng cách truy nhập vào các cơ sở dữ liệu khách hàng đặt tại ISP. Bằng cách đó, ISP biết được rằng các kết nối do BAS định tuyến tới - đã được xác thực thông qua giao dịch với cơ sở dữ liệu riêng của ISP.

7. MODEM ADSL TRÊN THỰC TẾ

a. Các loại modem ADSL thông minh và thụ động

Modem ADSL thông minh bản thân nó đã tích hợp sẵn các giao thức truyền thông cần thiết (Như thiết bị Modem ADSL Router hoặc Modem được sử dụng kết nối qua cổng Card Ethernet 10/100Mb) nên chỉ việc lựa chọn và khai báo VPI/VCI cho Modem.

 

 

 

Còn Modem ADSL thụ động thì phải hoạt động dựa trên hệ điều hành của máy tính để cung cấp các giao thức cần thiết. Các loại Modem này bắt buộc phải cài đặt phần mềm điều khiển Modem và thiết lập các giao thức PPP, VPI/VCI. Việc cấu hình như vậy phức tạp và đòi hỏi thời gian nhiều hơn. Chỉ có Windows 98SE, Windows ME và Windows 2000/XP là có cài sẵn cơ chế thực thi ATM, vì thế người ta ít sử dụng các Modem thụ động trên thực tế. Mặc dù các Modem thông minh có hỗ trợ các giao thức cần thiết nhưng chúng vẫn có thể được dùng cho các hệ điều hành nói trên. Các Modem thụ động có thể nối với PC thông qua giao diện USB, hoặc có thể được sản xuất dưới dạng PCI Card để cắm thẳng trên bảng mạch chủ của PC. Lưu ý là việc khai thác giao thức ATM không có nghĩa là cần phải có Card mạng ATM cho PC - đó chỉ là cơ chế hỗ trợ bằng phần mềm trong hệ điều hành.

b. Mối tương quan giữa điện thoại và ADSL

 

ADSL cho phép cùng lúc vừa truy nhập Internet tốc độ cao lại vừa có thể thực hiện cuộc gọi cũng trên đường dây đó. Thiết bị chuyên dụng Splitters được sử dụng để tách riêng các tần số cao dùng cho ADSL và các tần số thấp dùng cho thoại. Như vậy, người ta thường đặt các Splitters tại mỗi đầu của đường dây - phía thuê bao và phía DSLAM.

 

 

 

Tại phía thuê bao, các tần số thấp được chuyển đến máy điện thoại còn các tần số cao đi đến modem ADSL. Tại các tổng đài, các tần số thấp được chuyển sang mạng thoại PSTN còn các tần số cao đi đến ISP.

c. Tốc độ đa dạng

Tốc độ của kết nối giữa modem ADSL và DSLAM phụ thuộc vào khoảng cách đường truyền và tốc độ tối đa được cấu hình sẵn trên cổng của DSLAM. Còn tốc độ kết nối vào Internet lại còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nữa như dưới đây :

 

Số người dùng kết nối vào cùng một DSLAM và thực tế có bao nhiều người dùng đang khai thác kết nối.

 

Tốc độ kết nối giữa DSLAM và BAS.

Bao nhiêu card DSLAM cùng nối vào một BAS và bao nhiêu người dùng đang khai thác thực tế kết nối.

Tốc độ kết nối giữa BAS và ISP.

Bao nhiêu BAS kết nối vào ISP và bao nhiêu người dùng thực tế đang khai thác.

Tốc độ của kết nối từ ISP tới mạng Internet toàn cầu.

Bao nhiêu thuê bao của ISP đang khai thác (qua các giao tiếp khác nhau như quay số PSTN/ ISDN và ADSL).

ISP tổ chức Caching và Proxy ra sao, liệu thông tin mà bạn cần khai thác đã được lưu trữ trên Cache chưa hay phải tải về từ Internet.

AVG Anti-Virus Pro 2011Full mediafire

AVG Internet Security 2011 10.0.1152 Build 3209 Multilingual (x86)




or:


AVG Internet Security 2011 10.0.1152 Build 3209 Multilingual (x64) 



Code:

http://www.mediafire.com/?xi612g20jthm29a


or:


Code:

http://mega.1280.com/file/THANQ21GBT/










AVG Internet Security 2011
Ultimate protection for everything you do online
AVG Internet Security provides multiple layers of protection for everything you do online, which means you don’t have to worry about identity theft, viruses, or visiting harmful sites.
AVG Protective Cloud Technology and AVG Community Protection Network are included, meaning we collect the latest threat information and share it with our community to make sure you receive the best protection.
Shop and bank online safely with AVG Firewall, AVG Anti-Spam & AVG Identity Protection™
Stay safe on social networks with AVG Social Networking Protection - NEW!
Surf and search with confidence with AVG LinkScanner’s® real-time protection


GREAT FEATURES :
Shop and bank with confidence :
AVG Firewall (enhanced for AVG 2011) and AVG Identity Protection™ Provides additional layers of security, keeping your private information safe at all times.

Block spammers and scammers :
AVG Anti-Spam Marks all unwanted emails as spam, protecting you from online scams and keeping your inbox clutter free.

Download, share files and chat safely :
AVG Online Shield™ Download and share files without risk of infection. You are also protected when you exchange files through online chat.

Stay protected on social networks :
AVG Social Networking Protection Automatically checks links exchanged on Facebook and MySpace in real time so that you and your friends stay safe. NEW!
Support and assistance Our technical experts are available to help with any problems you might have.

Scan smarter and faster :
AVG Smart Scanning works while you play AVG 2011’s scans are 3 times faster than previous versions. AVG Smart Scanning works while you’re away and runs in low-priority mode when you return.

Keep tough threats out :
AVG Protective Cloud Technology, AVG Community Protection Network and AVG Anti-Spyware AVG’s core layers of protection make sure you can’t receive or unintentionally spread even the toughest threats.

System Requirements :
Computer Hardware
Minimum system requirements
Processor : Intel Pentium 1.5 GHz or faster
Memory : 512 MB of RAM
Hard disk free space (for installation) : 750 MB

Recommended system requirements
Processor : Intel Pentium 1.8 GHz or faster
Memory : 512 MB of RAM
Hard disk free space (for installation) : 1400 MB

Operating systems :
Operating System AVG Internet Security 2011
MS Windows XP
MS Windows XP Pro x64 Edition
MS Windows Vista
MS Windows Vista x64 Edition
MS Windows 7
MS Windows 7 x64 Edition

Web browser :
AVG's LinkScanner® technology is compatible with:
Microsoft Internet Explorer
Mozilla Firefox














Uncheck Below Option and continue-






























Mediafire Download Links-
======>>Download Now (đã bao gồm key )
( chờ 5 giây bấm skip ad ở góc phải phía trên để chuyển qua trang mediafire download )
Size 139 mb




pass:  www.namln.com

------------------------------

Guitar xin khuyến mãi các bạn 1 số key nữa
Ðính Kèm 628
KEY DÀNH CHO THÀNH VIÊN MUỐN NHẬP TRỰC TIẾP(mà mình tìm được)

AVG INTERNET SECURITY
8MEH-RS47Y-82HT8-GONVA-BCCCZ-DEMBR-ACED
8MEH-RFR8J-PTS8Q-92ATA-ORC6Q-JEMBR-ACED
8MEH-RXYFD-JUV72-8922R-FTDO8-QEMBR-ACED
8MEH-RXYFD-JUV72-8922R-FTBZ6-QEMBR-ACED
8MEH-R6BFE-HWUHF-DPNDA-VFUWX-2EMBR-ACED
8MEH-RGM33-K474L-6FGRR-8QEFN-UEMBR-ACED
________________________________________
8MEH-RAJC2-O3H77-KRRQA-HO7OJ-REMBR-ACED
8MEH-RF4BZ-FHKTO-VRV3A-4J9NO-DEMBR-ACED
8MEH-RGHD3-SUAUO-SXPWA-PMJ8O-9EMBR-ACED
8MEH-RUT9Q-4FS2R-PX2XA-TNTK4-LEMBR-ACED
8MEH-RB32G-UPX8U-TRLQR-BLZCO-CEMBR-ACED
______________________________________

8MEH-REDSL-7VLFC-ULA8R-EKCGK-4EMBR-ACED
8MEH-RYH2W-SRS6N-H2HGA-WM424-9EMBR-ACED
8MEH-RF22Z-A6FGS-QDWMR-2NRWJ-BEMBR-ACED
8MEH-RYH2W-SRS6N-H2HGA-W6VS7-9EMBR-ACED
8MEH-RCB97-4YUT9-P4RRR-RTZLQ-2EMBR-ACED
______________________________________

8MEH-RLKZO-8TSGH-HSYKA-KL2EG-SEMBR-ACED
8MEH-RD8B8-2XJH3-Z6YQA-ERFNN-GEMBR-ACED
8MEH-RE6B8-SA83Z-A489R-9OOUP-EEMBR-ACED
______________________________________

8MEH-R2CML-SBEEW-MOXFR-TABQX-3EMBR-ACED
8MEH-RQEZT-B9SH3-E64FA-9LCBD-6EMBR-ACED
8MEH-R9Q3V-ZYWZT-92KCR-ALLMV-YEMBR-ACED
______________________________________
AVG ANTI-VIRUS NETWORK EDITION
8MEH-R6633-Y8C8H-YCNSR-HCD4X-EEMBR-ACED
8MEH-RX7AF-9R64N-NPW7R-L9GN4-FEMBR-ACED
8MEH-RW2ZU-2Q24F-26QCR-WRDD2-BEMBR-ACED
8MEH-RO9SN-AEG3P-E3SMR-PYSAH-HEMBR-ACED
MEH-RRX6F-OUS6X-H9ZCR-XTW93-PEMBR-ACED
8MEH-RCFXA-ZULKS-8ROGA-GE6TM-7EMBR-ACED
8MEH-RK82S-PFW82-C33BA-QF8FA-GEMBR-ACED
________________________________________
AVG ANTI-VIRUS

8MEH-RF22Z-AN7HS-QDWMR-2EEBP-BEMBR-ACED
8MEH-RYH2W-SAK7N-H2HGA-W73J4-9EMBR-ACED
8MEH-RNXBD-GMNGF-BSLSR-ZJKOD-PEMBR-ACED
8MEH-RF4BZ-FH4UO-VRV3A-4CH9L-DEMBR-ACED
8MEH-RG9B7-BGGVC-PXRCR-JPR2L-HEMBR-ACED
8MEH-RVEGA-VJYY3-Y3DLA-8NXY2-6EMBR-ACED
______________________________________
AVG ANTI-VIRUS

8MEH-RWEYH-SXRDN-6H9FR-3BGG8-6EMBR-ACED
8MEH-RRX6F-OUD7X-H9ZCR-XEAL7-PEMBR-ACED
8MEH-RMXLW-H6B3A-BABPA-SG62A-PEMBR-ACED
_________________________________________________
AVG ANTI-VIRUS SBS EDITION

8MEH-RQXTV-H9OWD-E447R-MPA7E-PEMBR-ACED
8MEH-R78BH-EYP8L-MLMVA-ZSMUR-GEMBR-ACED
8MEH-RAJC2-O3G77-KRRQA-HOPHO-REMBR-ACED
8MEH-RQX93-WYRKW-BE2FR-Q7MQG-PEMBR-ACED
8MEH-RB32G-UPY8U-TRLQR-BTN8P-CEMBR-ACED
8MEH-RXYFD-JUQ62-8922R-FCDC6-QEMBR-ACED
8MEH-RFGOH-EMLDS-8ZNAR-YFR7P-8EMBR-ACED
8MEH-R6633-YPB8H-YCNSR-HXFHS-EEMBR-ACED
8MEH-RG9B7-BGGVC-PXRCR-J8BEM-HEMBR-ACED
8MEH-RK82S-PWX82-C33BA-QTHMB-GEMBR-ACED