This is my blog: vuvanson.tk

Go to Blogger Vi-et Spaces.

This is my blog: sonblog.tk

Go to Blogger Vi-et Spaces.

This is my blog: vi-et.tk

Go to Blogger Vi-et Spaces.

This is my facebook: https://www.facebook.com/vusonbk

Go to Facebook Blogger Vi-et Spaces.

This is my facebook page: https://www.facebook.com/ViEtSpaces

Go to Facebook Page Blogger Vi-et Spaces.

Thứ Năm, 29 tháng 4, 2010

Màn hình LCD và OLED

 

Màn hình LCD và OLED

ảnh minh họa


Sự phát triển của công nghệ đã giúp màn hình LCD (Liquid Crystal Display) chiếm lĩnh thị trường, dần đẩy màn hình CRT (Cathode Ray Tube) vào “quá khứ”. Ngoài ra, sự góp mặt của màn hình OLED (Organic Light Emitting Diode) cũng góp phần làm thị trường sôi động hơn. Với những ưu điểm gọn, nhẹ, độ phân giải cao hơn, độ tương phản, góc nhìn lớn hơn và tiết kiệm điện năng hơn, màn hình OLED sẽ dần thay thế LCD trong tương lai. Thông tin trong bài viết không mới, chúng tôi cố gắng tổng hợp lại nhằm giúp bạn đọc nắm bắt được những điểm cơ bản về màn hình LCD và OLED.

 

MÀN HÌNH LCD

Khái niệm cơ bản

Tinh thể lỏng (liquid crystal) mang đặc tính kết hợp giữa chất rắn và chất lỏng được Friedrich Reinitzer, nhà thảo mộc học người Áo phát hiện vào năm 1898. Trong tinh thể lỏng, trật tự sắp xếp của các phân tử giữ vai trò quyết định mức độ ánh sáng xuyên qua. Dựa trên trật tự sắp xếp phân tử và tính đối xứng trong cấu trúc, tinh thể lỏng được phân thành 3 loại: nematic, cholesteric (chiral nematic) và smectic; nhưng chỉ tinh thể nematic được sử dụng trong màn hình LCD hay màn hình tinh thể lỏng. 

Màn hình LCD sử dụng ánh sáng nền phát quang để gửi ánh sáng đến các phân tử tinh thể lỏng có khả năng thay đổi tính phân cực của ánh sáng (các tinh thể lỏng phát sáng gián tiếp); từ đó thay đổi cường độ ánh sáng truyền qua khi kết hợp với các kính lọc phân cực (Hình 1). Dựa trên kiến trúc cấu tạo, LCD được chia thành 2 loại chính là LCD ma trận thụ động (DSTN LCD - Dual Scan Twisted Nematic) và LCD ma trận chủ động (TFT LCD - Thin Film Transistor) hướng đến môi trường ứng dụng phổ thông và cao cấp. Điểm khác biệt cơ bản giữa hai loại này là cách thức điều khiển mỗi điểm ảnh (pixel). DSTN LCD có đáp ứng tín hiệu khá chậm (300ms) nên không thích hợp với ứng dụng hiển thị hình ảnh chuyển động nhanh như xem phim, chơi game. Ngoài ra, khi dòng điện chạy qua một hàng trong lưới điện cực, các hàng lân cận khác có thể bị ảnh hưởng, làm xuất hiện nhiều điểm sáng “ăn theo” điểm sáng được kích hoạt. Trong khi đó đối với TFT LCD, lưới điện cực điều khiển được thay bằng ma trận transistor phiến mỏng (TFT). Mỗi điểm ảnh được điều khiển độc lập bởi một transistor và được đánh dấu địa chỉ phân biệt. Vì thế, trạng thái của từng điểm ảnh có thể điều khiển độc lập, đồng thời và tránh được hiện tượng bóng ma như ở DSTN LCD.

Công nghệ panel của LCD












Hình 1: Lớp tinh thể lỏng của màn hình được kẹp giữa các lớp điện cực, thủy tinh và kính lọc phân cực. (Nguồn: howstuffwork.com).

Ngoài các thông số kỹ thuật như độ tương phản, tần số đáp ứng, tốc độ làm tươi thì công nghệ panel là yếu tố quyết định chất lượng màn hình LCD. Hiện có 3 công nghệ panel chính là Twisted Nematic (TN), Vertical Alignment (VA) và In-Plane Switching (IPS). Ưu điểm của công nghệ panel TN là có thời gian đáp ứng rất nhanh (từ 2-5ms) nhưng khả năng hiển thị màu sắc kém và góc nhìn hạn chế nên chỉ thích hợp sử dụng trong các màn hình LCD phổ thông, không đòi hỏi cao về chất lượng hiển thị. Công nghệ panel VA có khả năng tái hiện màu sắc sặc sỡ, độ tương phản cao và mở rộng góc nhìn ra 170o theo cả hai chiều. Dựa trên công nghệ VA (Vertical Alignment), các nhà sản xuất lần lượt đưa ra thêm MVA (Multi-domain VA) và PVA (Patterned VA). Được đánh giá tốt nhất về chất lượng hiển thị so với các công nghệ panel khác, công nghệ panel IPS có khả năng thể hiện màu sắc trung thực và rất ấn tượng, gần tương đương như màn hình CRT và góc nhìn lớn nhất; nhược điểm là chi phí cao. Hiện có khá nhiều biến thể của công nghệ này như S-IPS (Super-IPS), AS-IPS (Advanced Super IPS), A-TW-IPS (Advanced True White IPS), trong đó S-IPS là phổ biến nhất.

Ghi chú: Để biết cụ thể màn hình LCD sử dụng công nghệ panel nào, bạn có thể vào trang tftcentral.co.uk, nhập model sản phẩm, tên nhà sản xuất và chọn Search để tìm thông tin liên quan.

LCD thường và LCD gương

LCD gương xuất hiện ngày càng nhiều trên thị trường và cũng được người dùng ưa chuộng. Vậy điểm khác biệt giữa LCD thường và LCD gương cũng như ưu điểm của mỗi loại là gì? Về thiết kế, tất cả màn hình LCD được phủ 1 lớp tán xạ mờ nhằm hạn chế chói mắt, giúp người dùng làm việc thoải mái hơn trong môi trường có ánh sáng phức tạp. Tuy nhiên, khuyết điểm của lớp tán xạ này là làm giảm chất lượng hình ảnh hiển thị, giảm độ tương phản, sắc độ màu của hình ảnh và hạn chế góc nhìn ngang. Công nghệ màn hình gương AR (anti-reflective) có khả năng hấp thu ánh sáng thay cho công nghệ phản xạ ánh sáng AG (anti glare) áp dụng trong các màn hình LCD thường. Lớp phủ này giúp màn hình hiển thị màu sắc đậm hơn, 2 màu đen và trắng chuẩn hơn, hình ảnh cũng sắc nét hơn. Ngoài ra, màn hình gương cũng hiển thị rõ ràng hơn khi sử dụng ngoài trời hoặc ở nơi ánh sáng mạnh.

MÀN HÌNH OLED

Khái niệm cơ bản

Công nghệ OLED (Organic Light Emitting Diode) sử dụng đi-ốt hữu cơ phát quang được Kodak nghiên cứu và phát triển từ những năm 1980. Các phân tử OLED có khả năng tự phát sáng (phát sáng trực tiếp) khi có dòng điện chạy qua nên không cần sử dụng ánh sáng nền phát quang riêng như LCD. Điều này giúp màn hình OLED tiết kiệm điện năng khá lớn so với màn hình LCD, đồng thời độ phân giải, độ tương phản và góc nhìn cũng cao hơn. Việc sản xuất màn hình OLED kích thước lớn, cực mỏng (dày chưa đến 1mm) rất dễ dàng so với màn hình LCD. Ngoài ra, loại màn hình này có thể cuộn lại, dán vào tường hoặc đem căng lên trong khung như màn hình chiếu phim.

OLED đầu tiên sử dụng các chất phân tử nhỏ (small molecule) phát ra ánh sáng mạnh nhưng có chi phí sản xuất cao do phải trải qua quá trình lắng đọng trên các tấm nền trong chân không. Kể từ năm 1990, các hợp chất cao phân tử polymer được thay thế do có chi phí sản xuất thấp hơn và thân thiện với môi trường.

Công nghệ panel của OLED

Về cơ bản, cấu tạo của màn hình OLED gồm nhiều lớp polymer mỏng dán chồng lên nhau, trong đó có một lớp bằng đi-ốt hữu cơ bị kẹp giữa 2 lớp điện cực (âm và dương) bằng kim loại trong suốt và phát ánh sáng màu khi có dòng điện nhỏ chạy qua (Hình 2). Có hai loại màn hình OLED, loại thứ nhất dùng ba loại đi-ốt màu đỏ, xanh lục, xanh dương và loại thứ hai dùng đi-ốt phát ánh sáng trắng để tạo ra màn hình đen trắng; có thể bổ sung những chất hữu cơ lọc màu (đỏ, xanh lục và xanh dương) để tạo ra màn hình màu. Cả hai loại đều tạo nên hình ảnh sáng đẹp và dễ nhìn.

Các loại OLED












Hình 2: Lớp diode hữu cơ bị kẹp giữa 2 lớp điện cực (âm và dương) có khả năng phát ánh sáng màu khi có dòng điện chạy qua.
(Nguồn: howstuffwork.com)

Tương tự LCD, OLED cũng được chia thành các loại như: OLED ma trận thụ động (passive matrix OLED), OLED ma trận chủ động (active matrix OLED), OLED trong suốt (transparent OLED), OLED phát sáng đỉnh (top emitting OLED), OLED gấp được (foldable OLED), OLED trắng (white OLED). Mỗi loại có những công dụng khác nhau, chẳng hạn OLED ma trận thụ động phù hợp cho các thiết bị có màn hình nhỏ như điện thoại di động, PDA hoặc máy nghe nhạc MP3. OLED ma trận chủ động tiêu thụ ít điện năng hơn và tần suất làm tươi nhanh hơn OLED ma trận thụ động, thích hợp để sử dụng trong màn hình máy tính, TV, bảng điện tử loại lớn. OLED gấp được có tấm nền làm từ các lá kim loại mềm dẻo hoặc làm từ nhựa. OLED gấp được rất nhẹ, có tuổi thọ cao được ứng dụng trong các bộ quần áo thông minh, điện thoại di động, bộ thu GPS và màn hình OLED hoặc OLED trắng có thể dùng để chiếu sáng, thay thế đèn huỳnh quang nhằm tiết kiệm năng lượng.

Màn hình LCD - Full HD hay tiết kiệm điện

Màn hình LCD - Full HD hay tiết kiệm điện

 





Bạn muốn dùng màn hình LCD để phục vụ cho công việc hay xem tivi giải trí? Ba sản phẩm tháng này sẽ đáp ứng tốt lần lượt các mục đích sử dụng này. AOC 2036S 20” gọn, tiết kiệm điện năng; Philips 220E1SB/69 22” thiết kế thanh lịch, hỗ trợ độ phân giải Full HD; và cuối cùng là LG M227WA 22” Full HD đa năng kiêm luôn cả tivi (TV), hòa hợp không gian làm việc và giải trí. Tất cả đều hỗ trợ khung hình wide 16:9, mang lại cho bạn những lựa chọn thật “đã mắt”.












AOC 2036S

Cùng tông đen sang trọng, nhưng 3 màn hình có kiểu dáng và kích cỡ hoàn toàn khác nhau. AOC 2036S 20” và Philips 220E1SB/69 22” được thiết kế đơn giản, các góc vuông vức không cách điệu càng tôn thêm vẻ chắc chắn. Chân đế của hai LCD này đều tròn, chỉ khác là Philips 220E1SB/69 “khuyết” ở phía trước. LG M227WA 22” đen bóng, chân đế oval cách điệu, cạnh dưới vạt cong rồi viền đỏ boóc-đô duyên dáng, “ôm” loa công suất 3Wx2. Cả 3 màn hình đều có thể điều chỉnh độ nghiêng xuống/lên khác nhau: AOC 2036S chỉ nghiêng phía sau 20 độ, LG M227WA có thể nghiêng từ -5 đến 15 độ, còn Philips 220E1SB/69 có thể điều chỉnh từ -5 đến 20 độ. Các LCD đều được bố trí các khe tản nhiệt ở phía trên. Đặc biệt, AOC 2036S còn tạo ấn tượng bởi các nút điều chỉnh và công tắc nguồn cảm ứng khá nhạy; tuy nhiên, các nút cảm ứng này lại thiếu chú thích đôi khi gây khó hiểu cho người dùng. Hai LCD còn lại, Philips 220E1SB/69 và LG M227WA, có thiết kế cụm nút điều chỉnh OSD lần lượt ở cạnh dưới và cạnh phải trực quan, dễ hiểu. Không có nút chức năng Fun như các màn hình LG mà Test Lab đã thử nghiệm trước đây, M227WA thêm vào các chức năng khác cho TV như tìm kênh tự động, các chế độ hiển thị hình ảnh Vivid/Standard/Cinema/Sport/User1/User2. Ngoài ra, để hỗ trợ tối đa cho giải trí, LG M227WA còn được trang bị hai loa 3W, dư dả để thưởng thức các chương trình TV. Philips 220E1SB/69 và LG M227WA còn có chức năng chuyển đổi khung hình từ 16:9 sang khung hình truyền thống 4:3 và ngược lại, nhằm đáp ứng mọi yêu cầu của người dùng.

Về giao tiếp, 2036S đơn giản chỉ có ngõ D-Sub, nhưng AOC đã “bù thêm” cho LCD này Hub USB (1 ngõ) ở ngay mặt sau cạnh dưới, cần thêm cáp USB để nối với máy tính thì Hub này mới hoạt động được. Philips 220E1SB/69 chu đáo hơn khi ngoài ngõ D-Sub còn trang bị thêm cổng DVI cho hình ảnh mượt mà hơn. LG M227WA đa dạng giao tiếp hơn, xứng đáng với nhiệm vụ giải trí của mình. Các giao tiếp của M227WA đều nằm ngay mặt sau: 2 ngõ HDMI hỗ trợ xem phim HD, D-Sub, DVI, Component, S-video, Audio, Optical Out... Ngoài ra, LG còn chăm chút thêm ngõ Headphone dưới cạnh phải màn hình để bạn thỏa thích giải trí mà vẫn không làm ảnh hưởng đến người khác.












Philips 220E1SB/69

Các màn hình thử nghiệm tháng này đều sở hữu các thông số kỹ thuật khá ấn tượng. Ở độ phân giải, Philips 220E1SB/69 và LG M227WA dẫn đầu với độ phân giải 1920x1080 (Full HD) hứa hẹn sẽ mang đến cho bạn những thước phim HD thật đẹp, mượt mà và sinh động. AOC 2036S tuy dừng lại ở độ phân giải 1600x900 nhưng là màn hình wide 20” gọn gàng cũng sẽ làm bạn hài lòng trong công việc cũng như xem DVD giải trí. Các nhà sản xuất luôn tìm tòi, nghiên cứu các công nghệ mới để không ngừng nâng cao độ tương phản của màn hình mang đến hình ảnh thật trong và rõ nét. AOC 2036S vượt lên ở độ tương phản động 60.000:1 cao nhất trong các màn hình đã từng thử nghiệm ở Test Lab. Với công nghệ DFC (Digital Fine Contrast), LG cũng đã nâng độ tương phản lên 30.000:1. Còn công nghệ SmartContrast đã giúp Philips 220E1SB/69 đạt độ phân giải 8.000:1. Chỉ có AOC 2036S hơi khiêm tốn ở độ sáng 250cd/m2, hai màn hình còn lại đều đạt độ sáng 300cd/m2. Thời gian đáp ứng của 3 màn hình đều ở mức 5ms.

Tuy được trang bị các thông số kỹ thuật cao, nhưng các màn hình vẫn chưa thể hiện thật xuất sắc năng lực của mình trong các thử nghiệm. Màn hình LG M227WA đã tách biệt thật rõ ràng các sọc đen trắng xen kẻ dày đặc, nhưng AOC 2036S và Philips 220E1SB/69 thì chưa làm tốt được điều đó. Trong thử nghiệm phân biệt các mức độ sáng/tối trong bảng đo sắc độ, AOC 2036S và LG M227WA với ưu thế độ phân giải cao đã thể hiện khá tốt nhưng vẫn chưa thể gọi là xuất sắc. Các màn hình hiển thị văn bản rõ nhưng chưa thật sắc nét, đặc biệt AOC 2036S khó lòng thể hiện rõ các cỡ chữ nhỏ. Về màu sắc, ba màn hình đều thể hiện phong phú và tươi, tuy nhiên, Philips 220E1SB/69 chưa phân biệt rõ các mức màu sáng. Hình ảnh chân dung thể hiện rõ, chi tiết, màu sắc thật.












LG M227WA

Test Lab thử chiêm ngưỡng những đoạn phim hoạt hình HD Little Chicken ở Philips 220E1SB/69 và LG M227WA, hình ảnh hiển thị rất tốt ở độ phân giải Full HD: độ nét cao và chi tiết đến từng hạt bụi. Đặc biệt, hiện tượng dừng hình hay bóng ma không hề xảy ra, hình ảnh sinh động và thật. Đến đây dàn loa công suất khá lớn 3Wx2 của LG M227WA cũng đã phát huy thế mạnh và thể hiện thật xuất sắc, âm nghe rõ và đủ độ cao, độ trầm nhất từ trước đến nay (so với các loa tích hợp trong LCD).

Thử xem TV bằng màn hình LG M227WA, Test Lab nhận thấy TV LCD này thể hiện khá tốt. Chỉ với ăng ten “râu” không chuyên, LG M227WA vẫn dò và bắt được hầu hết các kênh truyền hình tại khu vực. Quá trình dò kênh tự động diễn ra nhanh chóng và tự lưu kênh chính xác. Điều khiển từ xa rõ ràng, dễ sử dụng. Cũng như các LCD kiêm TV trước đây, chức năng PIP (Picture In Picture) vẫn được trang bị cho LG M227WA để bạn có thể vừa làm việc vừa dõi theo chương trình truyền hình mà mình yêu thích. Hình ảnh thu được ở kênh VTV3 khá nét, âm thanh rõ, và màu sắc trung thực.

Các LCD đều được nhà sản xuất chu đáo trang bị các phụ kiện đi kèm như CD hướng dẫn, các loại cáp VGA, DVI, ...

Nếu bạn muốn một màn hình LCD gọn gàng, tiết kiệm điện năng (tiết kiệm được 50% điện năng - theo hãng sản xuất) để làm việc và giải trí thì AOC 2036S là một trong những lựa chọn của bạn. Thiết kế thanh lịch, sang trọng, hỗ trợ Full HD, Philips 220E1SB/69 đáng để bạn xem xét. LG mang đến cho bạn giải pháp “hai thế giới trong một” để bạn vừa làm việc vừa giải trí ngay trên chiếc màn hình duyên dáng và sang trọng M227WA.
 




























































BẢNG TÍNH NĂNG
 AOC 2036SLG M227WAPhilips 220EI
Khung hình20”22”22”
Độ phân giải1600x900 1920x10801920x1080
Độ tương phản60000:1 30000:18000:1
Độ sáng250cd/m2300cd/m2300cd/m2
Thời gian đáp ứng5ms5ms5ms
Góc nhìn 170/160170/160
Ngõ vàoD-SUBD-SUB/DVI/HDMID-SUB/DVI
Giá (dồng)/Bảo hành2.581.000/3 năm4.250.000/2 năm3.649.000/3 năm














   
  


Băn khoăn chọn lựa màn hình LCD - CRT


Đó là cuộc cạnh tranh khốc liệt giữa một bên là công nghệ mới không ngừng phát triển và một bên là những công nghệ cũ nhưng chưa lạc hậu. Khó có thế nói trước được kết quả bởi mỗi bên đều có điểm mạnh riêng đáng để khám phá. 




Khác biệt kích cỡ

Với màn hình ống phóng (CRT), kích cỡ thực thường nhỏ hơn trên giấy tờ. Ví dụ một màn hình 32” tức là chiều dài đường chéo là 32”. Tuy nhiên, một màn hình CRT loại 17” chỉ có 15,7” chiều dài đường chéo phần hiển thị hình ảnh. Màn hình tinh thể lỏng LCD không có hạn chế này.

Ứng dụng

Nếu bạn là người cực kì khó tính về game hay công việc của bạn yêu cầu khả năng đồ họa ưu việt, sống động hơn, thì màn hình CRT cỡ lớn là một lựa chọn tốt. Còn màn hình LCD với chất lượng hình ảnh nổi trội, kiểu dáng hiện đại và ít hại mắt sẽ làm hài lòng người dùng thông thường. Khi mua một chiếc CRT, hãy mua từ 17” trở lên. Tương tự, hãy mua màn hình LCD loại 17” thay vì 15” bởi giá bán chênh nhau không nhiều.

Giá thành

Giá cả của màn hình LCD ngày cảm giảm: chỉ cần chi 200 USD để mua một màn hình LCD loại 19”. Tuy nhiên, với những loại từ 21” trở lên, giá tăng gấp rưỡi tới gấp đôi. Ví dụ một màn hình LCD loại 21” có giá 250 USD, trong khi các loại lớn hơn có giá từ 400 USD trở lên.

Màn hình theo bộ

Nếu bạn mua máy tính bộ có thương hiệu và không hài lòng với loại màn hình đi kèm? Cách tốt nhất là chọn một hãng khác đáp ứng tương đối các yêu cầu của mình. Một cách khác, thay vì trọn bộ, người mua có thể đến các cửa hàng phân phối phối và chọn loại PC, UPS, DVD ROM, ổ cứng v.v..cho bộ máy tính "lắp ghép thủ công", nhờ đó có thể tìm được màn hình ưng ý.

Không phải tất cả đều phẳng

Khi mua màn hình, đừng đánh đồng màn hình phẳng là LCD. Cách duy nhất để biết là hãy hỏi rõ đó là loại màn hình LCD hay CRT trước khi mua .

Những điểm quan trọng cần lưu ý khi chọn mua màn hình LCD 



Tính thẩm mỹ: So với CRT, màn hình LCD có kiểu dáng hợp thời trang và thanh mảnh rất ưa nhìn. Các sản phẩm hiện nay đều có kiểu dáng trang nhã, thanh điều khiển được bố trí gọn gàng. Khối lượng một chiếc màn hình LCD 15” chỉ tầm hơn 1kg, nặng hơn một chút với cỡ 17”, rất tiện cho việc di chuyển. Ngoài ra, các nhà sản xuất đã thiết kế nguồn điện ở ngoài nên độ dày tối thiếu của nền màn hình hiện nay là dưới 1,5cm.

Góc nhìn: Mặc dù CRT dẫn đầu về mặt này, góc nhìn của LCD ngày càng được mở rộng hơn. Hiện nay góc nhìn tối đa của LCD đã lớn hơn 160 độ - quá đủ cho bất kỳ mục đích nào.

Về hiển thị màu sắc: Màn hình CRT chiếm ưu thế rõ rệt. Tuy nhiên, những chiếc LCD tốt nhất hiện nay cũng đáp ứng khá tốt và đối với người sử dụng bình thường thì khó có thể nhận ra sự khác biệt khi so sánh. Sự khác biệt về hiển thị màu này có thể tăng giảm tùy chất lượng màn hình LCD so sánh.

Độ tương phản: CRT truyền thống luôn có độ tương phản tốt hơn so với LCD. Gần đây một số sản phẩm LCD đã theo kịp màn hình CRT về khả năng này. Độ tương phản giúp hiển thị tông màu một cách chân thực ngay cả khi ánh sáng yếu. Do vậy, đây là yếu tố quan trọng nhất đối với các ứng dụng về game hay phim ảnh.

Điểm chết: Điểm chết là những điểm ảnh không hoạt động trên màn hình LCD. Không thể khắc phục được lỗi điểm chết của màn hình. Điểm chết sẽ hiện rõ với màu nền trắng hay ngay khi khởi động. Vẫn còn nhiều nhà sản xuất băn khoăn về điều khoản bảo hành thay thế đối với các màn hình có điểm chết. Ngược lại, các hãng sản xuất hàng đầu không ngần ngại đổi lại các màn hình có lỗi trong thời gian bảo hành. Do đó, khi chọn mua một chiếc LCD, hãy kiểm tra các điều khoản bảo hành liên quan đến điểm chết. Nhanh chóng cài đặt thử ngay sau khi mua để đảm bảo có thể được bảo hành trong thời gian quy định.

Tiêu thụ năng lượng: Màn hình LCD tiêu thụ điện năng rất ít - từ 25 - 50 W. Trong khi với một màn hình CRT 15 “, mức điện năng tiêu thụ lên tới 60 - 80 W và khoảng 70 - 150 đối với màn hình 17” và 19”.

Về hiển thị hình ảnh: Màn hình LCD hiển thị hình ảnh sáng rõ gấp 2 lần so với CRT. Nên chọn LCD khi sử dụng màn hình trong môi trường nhiều ánh sáng.

Nhiễu từ: Những chiếc LCD không hề bị ảnh hưởng bởi nhiễu từ - không như CRT. Rất nhiều màn hình LCD có hệ thống âm thanh nổi đi kèm và không phải ngăn nhiễu từ. Do đó giảm thiếu chi phí cho người tiêu dùng và nhà sản xuất.

Tốc độ đáp ứng: Đối với màn hình LCD, tốc độ đáp ứng là một yếu tố quan trọng liên quan đến các ứng dụng về game hay phim ảnh. Đó là thời gian một điểm ảnh trên màn hình có thể đổi màu. Hiện nay đa số màn hình đều có tốc độ đáp ứng cao. Bạn nên chọn màn có tốc độ đáp ứng (response time) ít nhất 2ms nếu có nhu cầu chơi game.

Rung hình: Điều bất tiện nhất của màn hình CRT là bị rung hình, hay tần số quét thấp, có thể gây ra đau đầu khi sử dụng hàng ngày. Điều này khiến loại màn hình CRT được sản xuất hạn chế hơn. Tần số quét mặc định trong Window là 60 Hz, cho đến khi cài đặt màn hình, hệ điều hành sẽ tiếp nhận tập tin cài đặt và điều chỉnh tần số theo các thông số của màn hình. Theo chuẩn VESA thì tần số quét tối thiểu là 72 để tránh hiện trượng nhức mỏi mắt. 85 Hz là tần số lý tưởng cho người sử dụng màn hình CRT loại 17”. Tần số quét hoàn toàn không phải là vấn đề đối với màn hình LCD. Thông thường có hai loại tần số quét để lựa chọn đối với các màn hình LCD, nên tuân theo khuyến cáo của nhà sản xuất\

Chủ Nhật, 25 tháng 4, 2010

Có lẽ anh wa mệt mõi rồi em ah ?

Anh bik mình không bằng người ấy về mọi mặt ... ko đẹp trai bằng ... không ga lăng bằng ... tiền bạc cũng không bằng ... uh thì có lẽ anh không có 1 thứ gì bằng người ấy.Uh có lẽ suy nghĩ wa nhìu ... và tự ép mình thay đổi thật sự làm anh trở nên kiệt sức.
Nhưng anh bik trước sau rồi con người cũng phải thay đổi thôi đúng không em ... nên giờ đây cũng là lúc thay đổi tốt nhất ... thay đổi để đón nhận những cái mới ... đón nhận một năm mới ... đón nhận một nỗi cô đơn dài vô tận ... đón nhận tất cả mọi thứ rồi cũng sẽ đến .
Anh phải học cách chấp nhận sự thật ... sự thật là sau này anh sẽ xa em ... sau này em sẽ có một người hằng ngày em vẫn gặp ... một người mà em gọi là "chồng" ... uh ... thì anh bik đó là sự thật ... đó là tương lai ... tương lai thì sao chứ ... tương lai thì mọi thứ cũng sẽ tới thôi ... anh nên học cách chấp nhận là vừa rồi đúng không ... để sau này anh sẽ không phải bỡ ngỡ trước sự cô đơn của cuộc đời mình .
Anh sẽ chấp nhận để tự kiếm thêm cơ hội ... anh sẽ tự cho mình cơ hội ... cho dù đó là những cơ hội ảo ... nhưng anh sẽ nắm bắt tất cả ... giống nhưng một người chết đuối sẽ nắm lấy tất cả những gì trong tầm tay mình ... anh cũng sẽ như thế ... anh sẽ nắm bắt tất cả ... tất cả những gì mình có thể với được .
Có lẽ anh đang phải trãi wa 1 khoảng lặng của cuộc đời ... và trong tương lai anh ... sẽ có nhiều khoảng lặng như thế ... có thế giờ đây con tim anh đã quá lạnh ... nên anh không cảm nhận được điều gì nữa ... trên cuộc đời này chắc chỉ có mình em làm cho nó trở nên ấm áp thôi.
ANH ĐÃ QUÁ MỆT MÕI RỒI CÓ LẼ ANH CẦN THÊM NHIỀU THỜI GIAN NỮA...NHƯNG CHO DÙ CÓ ĐIỀU GÌ XẢY RA TRONG TƯƠNG LAI NHƯNG ANH SẼ MÃI YÊU EM ... EM AH` !!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!

 


What is love??? Why a person can be mad for love??? Love! happiness or what???

__________________
Hand in Hand... 

Thứ Năm, 22 tháng 4, 2010

phân biệt dual-core và core 2 dual, pentium3-pen4-penD và celeron!

BXL Pentium II đầu tiên, tên mã Klamath, sản xuất trên công nghệ 0,35 µm, có 7,5 triệu transistor, bus hệ thống 66 MHz, gồm các phiên bản 233, 266, 300MHz.

Pentium II, tên mã Deschutes, sử dụng công nghệ 0,25 µm, 7,5 triệu transistor, gồm các phiên bản 333MHz (bus hệ thống 66MHz), 350, 400, 450 MHz (bus hệ thống 100MHz). Celeron (năm 1998) được “rút gọn” từ kiến trúc BXL Pentium II, dành cho dòng máy cấp thấp. Phiên bản đầu tiên, tên mã Covington không có bộ nhớ đệm L2 nên tốc độ xử lý khá chậm, không gây được ấn tượng với người dùng. Phiên bản sau, tên mã Mendocino, đã khắc phục khuyết điểm này với bộ nhớ đệm L2 128KB.

Covington sử dụng công nghệ 0,25 µm, 7,5 triệu transistor, bộ nhớ đệm L1 32KB, bus hệ thống 66MHz, đế cắm 242 chân Slot 1 SEPP (Single Edge Processor Package), tốc độ 266, 300 MHz.

Mendocino cũng sử dụng công nghệ 0,25 µm có đến 19 triệu transistor, bộ nhớ đệm L1 32KB, L2 128KB, bus hệ thống 66 MHz, đế cắm Slot 1 SEPP hoặc socket 370 PPGA, tốc độ 300, 333, 366, 400, 433, 466, 500, 533 MHz.

Pentium III (năm 1999) bổ sung 70 lệnh mới (Streaming SIMD Extensions - SSE) giúp tăng hiệu suất hoạt động của BXL trong các tác vụ xử lý hình ảnh, audio, video và nhận dạng giọng nói. Pentium III gồm các tên mã Katmai, Coppermine và Tualatin.

Katmai sử dụng công nghệ 0,25 µm, 9,5 triệu transistor, bộ nhớ đệm L1 32KB, L2 512KB, đế cắm Slot 1 SECC2 (Single Edge Contact cartridge 2), tốc độ 450, 500, 550, 533 và 600 MHz (bus 100 MHz), 533, 600 MHz (bus 133 MHz).

Coppermine sử dụng công nghệ 0,18 µm, 28,1 triệu transistor, bộ nhớ đệm L2 256 KB được tích hợp bên trong nhằm tăng tốc độ xử lý. Đế cắm Slot 1 SECC2 hoặc socket 370 FC-PGA (Flip-chip pin grid array), có các tốc độ như 500, 550, 600, 650, 700, 750, 800, 850 MHz (bus 100MHz), 533, 600, 667, 733, 800, 866, 933, 1000, 1100 và 1133 MHz (bus 133MHz).

Tualatin áp dụng công nghệ 0,13 µm có 28,1 triệu transistor, bộ nhớ đệm L1 32KB, L2 256 KB hoặc 512 KB tích hợp bên trong BXL, socket 370 FC-PGA (Flip-chip pin grid array), bus hệ thống 133 MHz. Có các tốc độ như 1133, 1200, 1266, 1333, 1400 MHz.

Celeron Coppermine (năm 2000) được “rút gọn” từ kiến trúc BXL Pentium III Coppermine, còn gọi là Celeron II, được bổ sung 70 lệnh SSE. Sử dụng công nghệ 0,18 µm có 28,1 triệu transistor, bộ nhớ đệm L1 32KB, L2 256 KB tích hợp bên trong BXL, socket 370 FC-PGA, Có các tốc độ như 533, 566, 600, 633, 667, 700, 733, 766, 800 MHz (bus 66 MHz), 850, 900, 950, 1000, 1100, 1200, 1300 MHz (bus 100 MHz). Tualatin Celeron (Celeron S) (năm 2000) được “rút gọn” từ kiến trúc BXL Pentium III Tualatin, áp dụng công nghệ 0,13 µm, bộ nhớ đệm L1 32KB, L2 256 KB tích hợp, socket 370 FC-PGA, bus hệ thống 100 MHz, gồm các tốc độ 1,0, 1,1, 1,2, 1,3 và 1,4 GHz.

Pentium 4′ Intel Pentium 4 (P4) là BXL thế hệ thứ 7 dòng x86 phổ thông, được giới thiệu vào tháng 11 năm 2000. P4 sử dụng vi kiến trúc NetBurst có thiết kế hoàn toàn mới so với các BXL cũ (PII, PIII và Celeron sử dụng vi kiến trúc P6). Một số công nghệ nổi bật được áp dụng trong vi kiến trúc NetBurst như Hyper Pipelined Technology mở rộng số hàng lệnh xử lý, Execution Trace Cache tránh tình trạng lệnh bị chậm trễ khi chuyển từ bộ nhớ đến CPU, Rapid Execution Engine tăng tốc bộ đồng xử lý toán học, bus hệ thống (system bus) 400 MHz và 533 MHz; các công nghệ Advanced Transfer Cache, Advanced Dynamic Execution, Enhanced Floating point và Multimedia Unit, Streaming SIMD Extensions 2 (SSE2) cũng được cải tiến nhằm tạo ra những BXL tốc độ cao hơn, khả năng tính toán mạnh hơn, xử lý đa phương tiện tốt hơn. Tham khảo thêm thông tin trong bài viết “Pentium 4 trên đường định hình” (TGVT A, số 1/2001, Tr.54)

Pentium 4 đầu tiên (tên mã Willamette) xuất hiện cuối năm 2000 đặt dấu chấm hết cho “triều đại” Pentium III. Willamette sản xuất trên công nghệ 0,18 µm, có 42 triệu transistor (nhiều hơn gần 50% so với Pentium III), bus hệ thống (system bus) 400 MHz, bộ nhớ đệm tích hợp L2 256 KB, socket 423 và 478. P4 Willamette có một số tốc độ như 1,3, 1,4, 1,5, 1,6, 1,7, 1,8, 1,9, 2,0 GHz.

Ghi chú:

- Socket 423 chỉ xuất hiện trong khoảng thời gian rất ngắn, từ tháng 11 năm 2000 đến tháng 8 năm 2001 và bị thay thế bởi socket 478.

- Xung thực (FSB) của Pentium 4 là 100 MHz nhưng với công nghệ Quad Data Rate cho phép BXL truyền 4 bit dữ liệu trong 1 chu kỳ, nên bus hệ thống của BXL là 400 MHz.

P4 Northwood. Xuất hiện vào tháng 1 năm 2002, được sản xuất trên công nghệ 0,13 µm, có khoảng 55 triệu transistor, bộ nhớ đệm tích hợp L2 512 KB, socket 478. Northwood có 3 dòng gồm Northwood A (system bus 400 MHz), tốc độ 1,6, 1,8, 2,0, 2,2, 2,4, 2,5, 2,6 và 2,8 GHz. Northwood B (system bus 533 MHz), tốc độ 2,26, 2,4, 2,53, 2,66, 2,8 và 3,06 GHz (riêng 3,06 GHz có hỗ trợ công nghệ siêu phân luồng Hyper Threading - HT). Northwood C (system bus 800 MHz, tất cả hỗ trợ HT), gồm 2,4, 2,6, 2,8, 3,0, 3,2, 3,4 GHz. P4 Prescott (năm 2004). Là BXL đầu tiên Intel sản xuất theo công nghệ 90 nm, kích thước vi mạch giảm 50% so với P4 Willamette. Điều này cho phép tích hợp nhiều transistor hơn trên cùng kích thước (125 triệu transistor so với 55 triệu transistor của P4 Northwood), tốc độ chuyển đổi của transistor nhanh hơn, tăng khả năng xử lý, tính toán. Dung lượng bộ nhớ đệm tích hợp L2 của P4 Prescott gấp đôi so với P4 Northwood (1MB so với 512 KB). Ngoài tập lệnh MMX, SSE, SSE2, Prescott được bổ sung tập lệnh SSE3 giúp các ứng dụng xử lý video và game chạy nhanh hơn. Đây là giai đoạn “giao thời” giữa socket 478 - 775LGA, system bus 533 MHz - 800 MHz và mỗi sản phẩm được đặt tên riêng khiến người dùng càng bối rối khi chọn mua.

Prescott A (FSB 533 MHz) có các tốc độ 2,26, 2,4, 2,66, 2,8 (socket 478), Prescott 505 (2,66 GHz), 505J (2,66 GHz), 506 (2,66 GHz), 511 (2,8 GHz), 515 (2,93 GHz), 515J (2,93 GHz), 516 (2,93 GHz), 519J (3,06 GHz), 519K (3,06 GHz) sử dụng socket 775LGA.

Prescott E, F (năm 2004) có bộ nhớ đệm L2 1 MB (các phiên bản sau được mở rộng 2 MB), bus hệ thống 800 MHz. Ngoài tập lệnh MMX, SSE, SSE2, SSE3 tích hợp, Prescott E, F còn hỗ trợ công nghệ siêu phân luồng, một số phiên bản sau có hỗ trợ tính toán 64 bit.

Dòng sử dụng socket 478 gồm Pentium 4 HT 2.8E (2,8 GHz), 3.0E (3,0 GHz), 3.2E (3,2 GHz), 3.4E (3,4 GHz). Dòng sử dụng socket 775LGA gồm Pentium 4 HT 3.2F, 3.4F, 3.6F, 3.8F với các tốc độ tương ứng từ 3,2 GHz đến 3,8 GHz, Pentium 4 HT 517, 520, 520J, 521, 524, 530, 530J, 531, 540, 540J, 541, 550, 550J, 551, 560, 560J, 561, 570J, 571 với các tốc độ từ 2,8 GHz đến 3,8 GHz.

BXL Celeron

BXL Celeron được thiết kế với mục tiêu dung hòa giữa công nghệ và giá cả, đáp ứng các yêu cầu phổ thông như truy cập Internet, Email, chat, xử lý các ứng dụng văn phòng.

Celeron Willamette 128 (2002), bản “rút gọn” từ P4 Willamette, sản xuất trên công nghệ 0,18 µm, bộ nhớ đệm L2 128 KB, bus hệ thống 400 MHz, socket 478. Celeron Willamette 128 hỗ trợ tập lệnh MMX, SSE, SSE2. Một số BXL thuộc dòng này như Celeron 1.7 (1,7 GHz) và Celeron 1.8 (1,8 GHz).

Celeron NorthWood 128, “rút gọn” từ P4 Northwood, công nghệ 0,13 µm, bộ nhớ đệm tích hợp L2 128 KB, bus hệ thống 400 MHz, socket 478. Celeron NorthWood 128 cũng hỗ trợ các tập lệnh MMX, SSE, SSE2, gồm Celeron 1.8A, 2.0, 2.1, 2.2, 2.3, 2.4, 2.5, 2.6, 2.7, 2.8 tương ứng với các tốc độ từ 1,8 GHz đến 2,8 GHz.

Celeron D (Presscott 256), được xây dựng từ nền tảng P4 Prescott, sản xuất trên công nghệ 90nm, bộ nhớ đệm tích hợp L2 256 KB (gấp đôi dòng Celeron NorthWood), bus hệ thống 533 MHz, socket 478 và 775LGA. Ngoài các tập lệnh MMX, SSE, SSE2, Celeron D hỗ trợ tập lệnh SSE3, một số phiên bản sau có hỗ trợ tính toán 64 bit. Celeron D gồm 310, 315, 320, 325, 325J, 326, 330, 330J, 331, 335, 335J, 336, 340, 340J, 341, 345, 345J, 346, 350, 351, 355 với các tốc độ tương ứng từ 2,13 GHz đến 3,33 GHz.

Bạn đọc có thể tham khảo các thông số kỹ thuật từng BXL tại http://processorfinder.intel.com/list.aspx?ProcFam=483#

Pentium 4 Extreme Edition

Pentium 4 Extreme Edition (P4EE) xuất hiện vào tháng 9 năm 2003, là BXL được Intel “ưu ái” dành cho game thủ và người dùng cao cấp. P4EE được xây dựng từ BXL Xeon dành cho máy chủ và trạm làm việc. Ngoài công nghệ HT “đình đám” thời bấy giờ, điểm nổi bật của P4EE là bổ sung bộ nhớ đệm L3 2 MB. Phiên bản đầu tiên của P4 EE (nhân Gallatin) sản xuất trên công nghệ 0,13 µm, bộ nhớ đệm L2 512 KB, L3 2 MB, bus hệ thống 800 MHz, sử dụng socket 478 và 775LGA, gồm P4 EE 3.2 (3,2 GHz), P4 EE 3.4 (3,4 GHz).

BXL 64 BIT, VI KIẾN TRÚC NETBURST

P4 Prescott (năm 2004)

Vi kiến trúc NetBurst 64 bit (Extended Memory 64 Technology - EM64T) đầu tiên được Intel sử dụng trong BXL P4 Prescott (tên mã Prescott 2M). Prescott 2M cũng sử dụng công nghệ 90 nm, bộ nhớ đệm L2 2 MB, bus hệ thống 800 MHz, socket 775LGA. Ngoài các tập lệnh MX, SSE, SSE2, SSE3, công nghệ HT và khả năng tính toán 64 bit, Prescott 2M (trừ BXL 620) có hỗ trợ công nghệ Enhanced SpeedStep để tối ưu tốc độ làm việc nhằm tiết kiệm điện năng. Các BXL 6×2 có thêm công nghệ ảo hóa (Virtualization Technology). Prescott 2M có một số tốc độ như P4 HT 620 (2,8 GHz), 630 (3,0 GHz), 640 (3,2 GHz), 650 (3,4 GHz), 660, 662 (3,6 GHz) và 670, 672 (3,8 GHz).

Prescott Cedar Mill (năm 2006) hỗ trợ các tập lệnh và tính năng tương tự Prescott 2M nhưng không tích hợp Virtualization Technology. Cedar Mill được sản xuất trên công nghệ 65nm nên tiêu thụ điện năng thấp hơn, tỏa nhiệt ít hơn các dòng trước, gồm 631 (3,0 GHz), 641 (3,2 GHz), 651 (3,4 GHz) và 661 (3,6 GHz).

Pentium D (năm 2005) Pentium D (tên mã Smithfield, 8xx) là BXL lõi kép (dual core) đầu tiên của Intel, được cải tiến từ P4 Prescott nên cũng gặp một số hạn chế như hiện tượng thắt cổ chai do băng thông BXL ở mức 800 MHz (400 MHz cho mỗi lõi), điện năng tiêu thụ cao, tỏa nhiều nhiệt. Smithfield được sản xuất trên công nghệ 90nm, có 230 triệu transistor, bộ nhớ đệm L2 2 MB (2×1 MB, không chia sẻ), bus hệ thống 533 MHz (805) hoặc 800 MHz, socket 775LGA. Ngoài các tập lệnh MMX, SSE, SSE2, SSE3, Smithfield được trang bị tập lệnh mở rộng EMT64 hỗ trợ đánh địa chỉ nhớ 64 bit, công nghệ Enhanced SpeedStep (830, 840). Một số BXL thuộc dòng này như Pentium D 805 (2,66 GHz), 820 (2,8 GHz), 830 (3,0 GHz), 840 (3,2 GHz).

Cùng sử dụng vi kiến trúc NetBurst, Pentium D (mã Presler, 9xx) được Intel thiết kế mới trên công nghệ 65nm, 376 triệu transistor, bộ nhớ đệm L2 4 MB (2×2 MB), hiệu năng cao hơn, nhiều tính năng mới và ít tốn điện năng hơn Smithfield. Pentium D 915 và 920 tốc độ 2,8 GHz, 925 và 930 (3,0GHz), 935 và 940 (3,2 GHz), 945 và 950 (3,4 GHz), 960 (3,6GHz). Presler dòng 9×0 có hỗ trợ Virtualization Technology.

Pentium Extreme Edition (năm 2005)

BXL lõi kép dành cho game thủ và người dùng cao cấp. Pentium EE sử dụng nhân Smithfield, Presler của Pentium D trong đó Smithfield sử dụng công nghệ 90nm, bộ nhớ đệm L2 được mở rộng đến 2 MB (2×1 MB), hỗ trợ tập lệnh MMX, SSE, SSE2, SSE3, công nghệ HT, Enhanced Intel SpeedStep Technology (EIST) và EM64T. Pentium 840 EE (3,20 GHz, bus hệ thống 800 MHz, socket 775LGA) là một trong những BXL thuộc dòng này.

Pentium EE Presler sử dụng công nghệ 65 nm, bộ nhớ đệm L2 được mở rộng đến 4 MB (2×2 MB), hỗ trợ tập lệnh MMX, SSE, SSE2, SSE3, công nghệ HT, Enhanced Intel SpeedStep Technology (EIST), EM64T và Virtualization Technology. Một số BXL thuộc dòng này là Pentium EE 955 (3,46GHz) và Pentium EE 965 (3,73GHz) có bus hệ thống 1066 MHz, socket 775.

BXL 64bit, kiến trúc Core

Tại diễn đàn IDF đầu năm 2006, Intel đã giới thiệu kiến trúc Intel Core với năm cải tiến quan trọng là khả năng mở rộng thực thi động (Wide Dynamic Execution), tính năng quản lý điện năng thông minh (Intelligent Power Capability), chia sẻ bộ nhớ đệm linh hoạt (Advanced Smart Cache), truy xuất bộ nhớ thông minh (Smart Memory Access) và tăng tốc phương tiện số tiên tiến (Advanced Digital Media Boost). Những cải tiến này sẽ tạo ra những BXL mạnh hơn, khả năng tính toán nhanh hơn và giảm mức tiêu thụ điện năng, tỏa nhiệt ít hơn so với kiến trúc NetBurst. Tham khảo chi tiết kiến trúc Core trong bài viết “Intel Core vi kiến trúc hai nhân chung đệm”, ID: A0605_124.

Intel Core 2 Duo

BXL lõi kép sản xuất trên công nghệ 65 nm, hỗ trợ SIMD instructions, công nghệ Virtualization Technology cho phép chạy cùng lúc nhiều HĐH, tăng cường bảo vệ hệ thống trước sự tấn công của virus (Execute Disable Bit), tối ưu tốc độ BXL nhằm tiết kiệm điện năng (Enhanced Intel SpeedStep Technology), quản lý máy tính từ xa (Intel Active Management Technology). Ngoài ra, còn hỗ trợ các tập lệnh MMX, SSE, SSE2, SSE3, SSSE3.

Core 2 Duo (tên mã Conroe) có 291 triệu transistor, bộ nhớ đệm L2 4 MB, bus hệ thống 1066 MHz, socket 775LGA. Một số BXL thuộc dòng này: E6600 (2,4 GHz), E6700 (2,66 GHz). Core 2 Duo (tên mã Allendale) E6300 (1,86 GHz), E6400 (2,13 GHz) có 167 triệu transistor, bộ nhớ đệm L2 2MB, bus hệ thống 1066 MHz, socket 775LGA. E4300 (1,8 GHz) xuất hiện năm 2007 có bộ nhớ đệm L2 2 MB, bus 800 MHz, không hỗ trợ Virtualization Technology.

Core 2 Extreme

BXL lõi kép dành cho game thủ sử dụng kiến trúc Core, có nhiều đặc điểm giống với BXL Core 2 như công nghệ sản xuất 65 nm, hỗ trợ các công nghệ mới Enhanced Intel SpeedStep Technology, Intel x86-64, Execute Disable Bit, Intel Active Management, Virtualization Technology, Intel Trusted Execution Technology… các tập lệnh MMX, SSE, SSE2, SSE3, SSSE3.

Core 2 Extreme (tên mã Conroe XE) (tháng 7 năm 2006) với đại diện X6800 2,93 Ghz, bộ nhớ đệm L2 đến 4 MB, bus hệ thống 1066 MHz, socket 775LGA. Cuối năm 2006, con đường phía trước của BXL tiếp tục rộng mở khi Intel giới thiệu BXL 4 nhân (Quad Core) như Core 2 Extreme QX6700, Core 2 Quad Q6300, Q6400, Q6600 và BXL 8 nhân trong vài năm tới. Chắc chắn những BXL này sẽ thỏa mãn nhu cầu người dùng đam mê công nghệ và tốc độ.

Thứ Sáu, 16 tháng 4, 2010

Ban da yeu???



 

Khi người ấy đang có mặt ở đây mà bạn giả vờ thờ ơ rồi khi người ấy vắng mặt, bạn lại bắt đầu đi tìm kiếm. 
Lúc đó,bạn đã yêu... 


Mặc dù xung quanh bạn có nhiều người luôn khiến cho bạn cười nhưng ánh mắt và sự chú ý của bạn chỉ luôn hướng về người ấy. 
Lúc đó, bạn đã yêu... 



Mặc dù người ấy đã gọi điện về thông báo rằng máy bay hạ cánh an toàn nhưng không ai trả lời điện thoại. Bạn vẫn luôn chờ đợi cuộc gọi ấy. 
Lúc đó, bạn đã yêu...
 

Bạn luôn thích thú với một email ngắn ngủn từ người ấy mà lờ đi những email thật dài của nhiều người khác. 

Lúc đó, bạn đã yêu...


Khi bạn thấy mình không thể xóa đi tất cả những 
mẩu tin trong Inbox hay trong Send Items chỉ bởi vì một email từ người ấy. 
Lúc đó, bạn đã yêu...


Khi bạn có một cặp vé đi xem phim. điều đầu tiên bạn nghĩ đến là sẽ cùng đi với người ấy. 
Lúc đó, bạn đã yêu...


Bạn luôn tự nhủ rằng ‘người ấy chỉ là bạn thôi" nhưng bạn nhận ra mình không tránh khỏi sự thu hút của người ấy. 
Lúc đó, bạn đã yêu... 
 

 

 Khi bạn đọc những dòng chữ này, nếu có ai đó xuất hiện trong đầu bạn. 

Lúc đó, bạn đã yêu ...  người ấy...